|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 190/2025/HNGĐ-ST Ngày 30/6/2025 “V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Kha
- Ông Tô Văn Đức
- - Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 30/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 140/2025/TLST-HNGĐ ngày 25/4/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/4/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 107/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30/5/2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Thanh N, sinh ngày 05/11/1980 (xin vắng mặt)
Căn cước công dân số: [...] cấp ngày 02/8/2024
Nơi thường trú: tổ dân phố N, phường M, quận B, thành phố Hà Nội
* Bị đơn: Anh Vũ Mạnh D, sinh ngày 15/10/1978 (vắng mặt)
Căn cước công dân số: [...] cấp ngày 04/6/2024
Địa chỉ cư trú cuối cùng của anh D tại Việt Nam: thôn V, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Anh D1 hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Vũ Thị Thanh N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Mạnh D quen và tìm hiểu nhau từ đầu năm 2006. Anh chị kết hôn với nhau ngày 17/3/2006, việc kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã V (nay là xã C), huyện L. Tháng 12/2012, anh D đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Do vợ chồng cách xa nhau nên không được gần gũi và hai bên không còn tình cảm, không thể hàn gắn với nhau nữa. Đến năm 2020 giữa chị và anh D hay xảy ra bất đồng, mâu thuẫn trầm trọng. Kể từ đó đến nay vợ chồng không còn liên lạc, không quan tâm đến nhau, mỗi người có cuộc sống riêng. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc hôn nhân không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Vũ Mạnh D được ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Vũ Quỳnh T, sinh ngày 28/11/2006 và cháu Vũ Hương G, sinh ngày 20/10/2012. Đối với cháu T đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Cháu G hiện đang ở cùng chị, khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu G cho chị nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Bị đơn là anh Vũ Mạnh D hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với anh D đến nay không nhận được thông tin của anh D.
Tòa án đã xác minh thu thập chứng cứ thông qua mẹ đẻ của anh D là ông Vũ Văn Q, sinh năm 1953; địa chỉ: thôn V, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang, ông có ý kiến trình bày như sau: ông là bố đẻ của anh Vũ Mạnh D, anh D hiện đang lao động tại nước ngoài. Ông vẫn thường xuyên liên hệ với anh D qua điện thoại nhưng không biết địa chỉ của anh D ở nước ngoài. Chị N và các cháu đang sinh sống tại Hà Nội, ông đã thông báo cho anh D về việc chị N đề nghị ly hôn nhưng anh D không về nước để giải quyết được. Anh Dũng không trao đổi gì với ông, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Cháu Vũ Hương G bày hiện nay đang ở cùng mẹ, bố cháu đi nước ngoài nhưng vẫn thường xuyên hỏi thăm cháu. Nếu bố mẹ ly hôn các cháu có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ N.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị N xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh Dũng vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Thanh N. Xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Thanh N được ly hôn anh Vũ Mạnh D. Về con chung: Giao cháu Vũ Hương G cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: chị Vũ Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Vũ Thị Thanh N có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Vũ Mạnh D. Bị đơn anh Vũ Mạnh D có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 1544/QLXNC ngày 30/5/2025 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh - Công an tỉnh B thì anh Vũ Mạnh D đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 16/3/2025, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị N có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Dũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với ông Vũ Văn Q là bố đẻ của anh D xác định hiện anh D đang ở nước ngoài nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể của anh D ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh D theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Thanh N và anh Vũ Mạnh D kết hôn với nhau ngày 17/3/2006 tại UBND xã V (nay là xã C), huyện L, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh D. Xem xét đơn khởi kiện của chị N, HĐXX thấy: Chị N xác định hiện nay vợ chồng đã không còn quan tâm gì nhau và không còn liên lạc với nhau nữa. Anh Dũng hiện đang ở nước ngoài vợ chồng xa cách, chị N xác định không còn tình cảm và vợ chồng đã ly thân. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, xử cho chị N được ly hôn với anh D.
[4]. Về con chung: Chị N và anh D có 02 con chung là cháu Vũ Quỳnh T, sinh ngày 28/11/2006 và cháu Vũ Hương G, sinh ngày 20/10/2012. Cháu T hiện đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Đối với cháu G hiện nay đang ở cùng chị N và có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ. Anh D1 hiện đang sinh sống và lao động tại nước ngoài không có địa chỉ nên không đủ điều kiện nuôi con. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung là cháu Vũ Hương G. Về cấp dưỡng nuôi con chị N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh D1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Chị N không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Vũ Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Thanh N.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Thị Thanh N được ly hôn anh Vũ Mạnh D.
- Về con chung: Giao cháu Vũ Hương G, sinh ngày 20/10/2012 cho chị Vũ Thị Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Vũ Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005702 ngày 25/4/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo:
- - Anh Vũ Mạnh D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- - Chị Vũ Thị Thanh N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 190/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 190/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nga ly hôn Dũng
