Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 190/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 29-10-2025.

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Dương Thị Bạn;
  2. Bà Trần Ngọc Phương.

Thư ký phiên toà: Ông Thái Vương Triều – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 446/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 20 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Thiên H, sinh năm 1978; trú tại: B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Hữu T, sinh năm 1972; trú tại: B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 9 năm 2025 và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Phan Thị Thiên H thống nhất trình bày:

Bà Phan Thị Thiên H và ông Lê Hữu Tổng T1 đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, tỉnh Thừa Thiên Huế) theo giấy chứng nhận kết hôn số 26, quyển số 02, cấp ngày 05 tháng 4 năm 2004.

Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc và yêu thương nhau. Tuy nhiên một khoảng thời gian sau, vợ chồng thường xuyên nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, không còn quan tâm chia sẻ với nhau. Bà Phan Thị Thiên H và ông Lê Hữu T mặc dù ở chung nhà nhưng đã ly thân với nhau khoảng 03 năm nay, mạnh ai người đó sống. Hiện tại, bà Phan Thị Thiên H xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Lê Hữu T, cuộc sống không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Phan Thị Thiên H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn đối với ông Lê Hữu T.

Về con chung: Quá trình chung sống bà Phan Thị Thiên H và ông Lê Hữu T có có 03 người con chung tên là Lê Hữu Chí T2, sinh ngày 03/01/2004; Lê Hữu Anh T3, sinh ngày 01/7/2006 và Lê Hữu Minh P, sinh ngày 06/9/2017. Sau khi ly hôn, bà Phan Thị Thiên H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục con chung Lê Hữu Minh P, sinh ngày 06/9/2017.

Đối với con chung Lê Hữu Chí T2, sinh ngày 03/01/2004 và Lê Hữu Anh T3, sinh ngày 01/7/2006 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Phan Thị Thiên H không yêu cầu ông Lê Hữu T cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài liệu chứng cứ nguyên đơn cung cấp chứng minh cho yêu cầu khởi kiện bao gồm: Tài liệu, chứng cứ về nhân thân, nơi cư trú của nguyên đơn, bị đơn, Giấy đăng ký kết hôn (bản trích lục).

Tại bản tự khai;đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và quá trình tố tụng bị đơn ông Lê Hữu Tổng thống N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Hữu Tổng thống N trình bày của bà Phan Thị Thiên H.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Ông T xác định vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tin tưởng nhau và tự cảm nhận không còn tình cảm nhưng vẫn ở chung nhà. Hiện nay bà H dứt khoát ly hôn với ông T thì ông T không đồng ý vì mong muốn các con có một gia đình đầy đủ. Trường hợp bà H muốn ly hôn thì đợi các con cái trưởng thành ổn định cuộc sống.

Về con chung: Quá trình chung sống bà Phan Thị Thiên H và ông Lê Hữu T có có 03 người con chung tên là Lê Hữu Chí T2, sinh ngày 03/01/2004; Lê Hữu Anh T3, sinh ngày 01/7/2006 và Lê Hữu Minh P, sinh ngày 06/9/2017. Sau khi ly hôn, bà Phan Thị Thiên H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục con chung Lê Hữu Minh P, sinh ngày 06/9/2017 thì ông T không có ý kiến và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, ông T không có ý kiến nào khác và không có yêu cầu phản tố trong vụ án.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến trước phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định Bộ luật tố tụng Dân sự. Về phần thủ tục Kiểm sát viên không có kiến nghị khắc phục gì thêm.

Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Bà Phan Thị Thiên H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và được nuôi con chung nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn ông Lê Hữu T, sinh năm 1972; trú tại: B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân Khui vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý đúng thẩm quyền.

[1.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Thiên H và ông Lê Hữu T tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là phường P, tỉnh Thừa Thiên Huế) theo giấy chứng nhận kết hôn số 26, quyển số 02, cấp ngày 05 tháng 4 năm 2004 là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[2.2] Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Phan Thị Thiên H xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống không hạnh phúc, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau và đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Xét thấy, trong hôn nhân vợ chồng phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng trong quan hệ vợ chồng thì người vợ và người chồng phải cùng nhau tích cực hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp. Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân giữa bà Phan Thị Thiên H và ông Lê Hữu T không đạt được các yếu tố của một gia đình hạnh phúc, không còn quan tâm chăm sóc nhau và bà Phan Thị Thiên H xác định không còn tình cảm vợ chồng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc và cả hai không còn sống chung với nhau đã lâu. Quá trình tố tụng, ông Lê Hữu T cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn từ năm 2022 cho đến nay. Ông ông Lê Hữu T không đồng ý ly hôn nhưng không có bất kỳ ý kiến đưa ra về việc mong muốn gia đình đoàn tụ. Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Phan Thị Thiên H và ông Lê Hữu T đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình tố tụng, nguyên đơn và bị đơn không có bất kỳ ý kiến đưa ra về việc mong muốn gia đình đoàn tụ nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Thiên H được ly hôn với ông Lê Hữu T.

[2.3] Về con chung:

Quá trình chung sống bà Phan Thị Thiên H và ông Lê Hữu T có có 03 người con chung tên là Lê Hữu Chí T2, sinh ngày 03/01/2004; Lê Hữu Anh T3, sinh ngày 01/7/2006 và Lê Hữu Minh P, sinh ngày 06/9/2017. Sau khi ly hôn, bà Phan Thị Thiên H yêu cầu được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục con chung Lê Hữu Minh P, sinh ngày 06/9/2017.

Xét, hiện tại các con chung đang sống cùng mẹ, bà Phan Thị Thiên H là người đang chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Quá trình tố tụng Tòa án đã làm việc với cháu Lê Hữu Minh P, sinh ngày 06/9/2017, nguyện vọng của cháu muốn được sống cùng bà Phan Thị Thiên H. Do đó, để đảm bảo ổn định cuộc sống, tâm sinh lý cháu, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao con chung cho bà Phan Thị Thiên H chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với con chung Lê Hữu Chí T2, sinh ngày 03/01/2004 và Lê Hữu Anh T3, sinh ngày 01/7/2006 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.4] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Phan Thị Thiên H tự nguyện không yêu cầu ông Lê Hữu T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.5] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.7] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 269, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự;
  • - Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Thiên H đối với bị đơn ông Lê Hữu T về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Thiên H được Ly hôn với ông Lê Hữu T.

- Về con chung:

Giao con chung Lê Hữu Minh P, sinh ngày 06/9/2017 cho bà Phan Thị Thiên H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Con chung Lê Hữu Chí T2, sinh ngày 03/01/2004 và Lê Hữu Anh T3, sinh ngày 01/7/2006 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về cấp dưỡng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phan Thị Thiên H không yêu cầu ông Lê Hữu T cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Phan Thị Thiên H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0024559 ngày 09/10/2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng THADS khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2025/HNGĐ-ST ngày 29/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 190/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vợ chồng không hòa hợp
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger