Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 190/2025/HNGĐ-ST

Ngày 18-6-2025

V/v: “Tranh chấp Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Đỗ Mỹ Lil
  2. Ông Duyên Văn Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 186/2025/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2025/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị N, sinh năm 1977.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1977.

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp I, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

(Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Võ Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Đ xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 1997, có tổ chức đám cưới theo phong tục, nhưng đến nay không có đăng ký kết hôn theo quy định.

Quá trình sống chung, vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng về quan điểm sống, sống không còn hạnh phúc, hiện đã ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay, chị nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Vợ chồng có chung 01 người con tên Nguyễn Sỉ S, sinh ngày 21/7/1998 (giới tính: Nam), đến nay cháu đã trưởng thành, không có yêu cầu giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng đối với cháu S.

Về tài sản, nợ: Chị N không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay, chị N yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định.

- Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Đ:

Từ khi thụ lý, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết đúng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn vắng mặt, không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

Vụ án, được Tòa án tiến hành công khai chứng cứ và lập biên bản không tiến hành hòa giải được, do bị đơn vắng mặt.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị N đã có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn anh Đ vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về việc chấp hành pháp luật của đương sự:

Đối với nguyên đơn là chị N đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, còn bị đơn là anh Đ đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Căn cứ các điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, cần xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên, là phù hợp.

[1.2] Về quan hệ pháp luật: Được xác định là “Tranh chấp về Ly hôn”, bị đơn là anh Đ có nơi cư trú tại ấp I, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Từ đó, Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân:

Theo chị N xác định, chị và anh Đ xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 1997, có tổ chức đám cưới theo phong tục, nhưng đến nay giữa chị và anh Đ không có đi đăng ký kết hôn theo quy định.

Chị N có cung cấp cho Toà án 01 (một) Đơn xin xác nhận ngày 09/4/2025 (bút lục 04) gửi đến Ủy ban nhân dân xã K để yêu cầu xác nhận, với nội dung: Vào năm 1997 gia đình hai bên có tổ chức đám cưới cho tôi (N) và anh Nguyễn Văn Đ, không có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K. Thời gian chung sống do bất đồng quan điểm nên nay tôi (N) gửi đơn ra Toà xin ly hôn với chồng là Nguyễn Văn Đ, nội dung này đã được Ủy ban nhân dân xã K xác nhận ngày 09/4/2025 là đúng.

Đối với anh Đ vắng mặt, không tham gia tố tụng và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến phản hồi gì trước ý kiến trình bày của chị N.

Như vậy, có cơ sở để xác định giữa chị N và anh Đ chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là thực tế. Do đó, về mặt hôn nhân giữa các đương sự đã vi phạm về hình thức. Nay, chị N yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân, do có mâu thuẫn và mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân có vi phạm về hình thức. Căn cứ các điều 9, 14, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nhung, không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh Đ là vợ chồng.

[2.2] Về con chung:

Theo chị N xác định, giữa chị và anh Đ có chung 01 người con tên Nguyễn Sỉ S, sinh ngày 21/7/1998 (giới tính: Nam).

Xét, tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 18/6/2025 thì cháu S đã trên 18 tuổi, nên chị N không có yêu cầu xem xét giải quyết về trách nhiệm nuôi dưỡng đối với cháu S là có cơ sở.

Đối với anh Đ vắng mặt, không tham gia tố tụng và cũng không có văn bản thể hiện ý kiến phản hồi gì trước ý kiến trình bày của chị N, nên không có cơ sở để xem xét giải quyết.

[2.3] Về tài sản, nợ: Chị N xác định không có yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được giải quyết ở vụ án khác.

[3] Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện, nên chị N phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Các điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Các điều 9, 14, 15, 53, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
  • Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị N.

1/ Về hôn nhân: Không công nhận giữa chị Võ Thị N và anh Nguyễn Văn Đ là vợ chồng.

2/ Về con chung: Đã trưởng thành, không đặt ra xem xét giải quyết.

3/ Về tài sản, nợ: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, trường hợp có tranh chấp sẽ được xem xét giải quyết ở vụ án khác.

4/ Về án phí: Chị Võ Thị N phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), đối trừ với số tiền 300.000 đồng mà chị N đã dự nộp tại Biên lai thu 0005541 ngày 28/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, nay được chuyển thu.

5/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự (02b);
  • - VKSND H. Trần Văn Thời (01b);
  • - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời (01b);
  • - Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn (01b);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (01b);
  • - Lưu án văn (01b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thành Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 190/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger