|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 190/2025/DS-PT Ngày 18 - 3 - 2025 V/v Tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Dũng
Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Yên
Ông Phan Tô Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ry - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 902/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 201/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số C, đường N, Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lý Thục K, sinh năm 1964. Địa chỉ: C N, Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền ngày 08/5/2023). (vắng mặt)
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số A, đường T, khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị Q. Địa chỉ: Số A, đường T, khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn C: Bà Nguyễn Ngọc M. Địa chỉ: số C T, khóm T, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền ngày 24/3/2023). (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Huỳnh Thị Mỹ D, sinh năm 1971. Địa chỉ: Số H, đường N, khóm C, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Anh Nguyễn Tuấn K1, sinh năm 2010. Địa chỉ: Số A, đường T, khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Bà Nguyễn Ngọc M, sinh năm 1976. Địa chỉ: số C T, khóm T, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S. Địa chỉ: Số A đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Ủy ban nhân dân thành phố S. Địa chỉ: I đường P, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
- Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ: số C N, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.
Người giám hộ của anh Nguyễn Tuấn K1:
+ Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số A, đường T, khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; là cha của anh Nguyễn Tuấn K1. (có mặt)
+ Bà Nguyễn Thị Q. Địa chỉ: Số A, đường T, khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; là mẹ của anh Nguyễn Tuấn K1. (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền cho Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S: Ông Nguyễn Văn Đ. Địa chỉ: Số A đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (theo văn bản ủy quyền số 07/UQ-STNMT ngày 23/3/2023). (vắng mặt)
Người đại diện ủy quyền của Ủy ban nhân dân thành phố S: Ông Đỗ Xuân N. Địa chỉ: số I đường P, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (văn bản ủy quyền số 2091/GUQ-UBND ngày 13/11/2023). (vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền cho Ủy ban nhân dân huyện M: Ông Lưu Minh H. Địa chỉ: số C N, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (văn bản ủy quyền số 511/UBND-VP ngày 04/5/2024). (vắng mặt)
- Người kháng cáo: Ông Huỳnh Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 10/3/2023 của ông Huỳnh Văn T và trình bày của bà Lý Thục K trong quá trình giải quyết vụ án:
Năm 1977, mẹ ông Huỳnh Văn T là cụ Trương Thị S (sinh năm 1935, chết năm 1979) có mua của ông D1 Lết một thửa đất khoảng 01 công, diện tích 781,9m² thuộc thửa số 215, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Năm 1979, cụ S qua đời và được gia đình chôn cất trên phần đất này. Trước khi chôn cất, theo tập quán người Hoa, khi tẩm liệm cho cụ S, ông T đã để miếng vàng lá K vào miệng, đeo sợi dây chuyền 05 chỉ, chiếc nhẫn 02 chỉ. Ngoài phần mộ của cụ S thì còn có mồ mã của bà con thân tộc được chôn cất trên đất này. Việc cụ S nhận chuyển nhượng phần đất này có ông Trương Ú, ông Danh L (con ông Danh L1), ông Trương Ú và ông Lý Sía K2 biết rõ.
Sau khi cụ S mất, hàng năm vào dịp tết Thanh minh, ông T đều đi tảo mộ, cúng cho mẹ Ông. Tháng 3/2021, ông T thuê người sửa sang mồ mã thì anh em bạn dì với ông T là ông Nguyễn Văn C ngăn cản và tranh chấp. Đến ngày 09/4/2021, ông T nhận được tin ông C đã cuốc mồ mã, bốc hài cốt cụ S bỏ trên mặt đất, số vàng khi an táng cụ S không còn. Ông T yêu cầu Ủy ban nhân dân Phường A can thiệp thì ông C lấp tạm lại. Sự việc ông C xâm phạm mồ mã cụ S đã bị Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 04 tháng tù và ông C đã chấp hành xong hình phạt tù.
Do ông C là anh em bạn dì nên ông T có cho ông C trồng trọt trên phần đất trống và chăm sóc mồ mã, nhưng ông C cho rằng phần đất này do cha của ông C là cụ Nguyễn Đình T1 đứng tên quyền sử dụng đất và ông C nhận thừa kế của cụ T1.
Ông Huỳnh Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Công nhận thửa số 215, tờ bản đồ số 12, diện tích 781,9m² tọa lạc tại khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Huỳnh Văn T và buộc ông Nguyễn Văn C cùng gia đình di dời tài sản để trả lại diện tích đất này cho ông T.
- Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU 017513 đối với thửa số 215, tờ bản đồ số 12, diện tích 781,9m² tọa lạc tại khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Nguyễn Văn C vào ngày 19/6/2020.
- Theo trình bày của ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Ngọc M tại phiên tòa:
Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của ông Nguyễn Đình T1 (chết ngày 08/4/2002) để thừa kế lại cho ông Nguyễn Văn C. Trên đất có 04 ngôi mộ của gia đình ông C (gồm mộ của bà B, vợ chồng bà Nguyễn Thị H1, bà Trương Nài H2, bà Trương Thị S) và 01 tháp chứa cốt của cha mẹ ông C, cốt của vợ chồng bà Nguyễn Thị H1 và cốt của bà Nguyễn Thị M1, bà B.
Ông Nguyễn Văn C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng phần đất tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông C.
- Theo trình bày của bà Huỳnh Thị Mỹ D tại phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ D thống nhất với ý kiến và yêu cầu của nguyên đơn.
- Theo trình bày của bà Nguyễn Ngọc M tại phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc M thống nhất với ý kiến và yêu cầu của bị đơn.
- Bà Nguyễn Thị Q, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S, Ủy ban nhân dân thành phố S, Ủy ban nhân dân huyện M: Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng các đương sự này không có ý kiến gì trong quá trình giải quyết vụ án.
- Theo trình bày của ông Trương Ú tại biên bản lấy lời khai ngày 10/7/2023 và tại phiên toà:
Ông Trương Ú và bà Trương Thị S (mẹ ông Huỳnh Văn T), bà Trương Thị H3 (mẹ ông Nguyễn Văn C), bà Trương Nài H2 là chị em ruột. Thửa đất đang tranh chấp được bà S1 mua lại của ông Danh L từ năm 1977. Khi bà S mất thì được ông T chôn cất trên phần đất này.
- Theo trình bày của ông Liêu Phát T2 tại biên bản lấy lời khai ngày 14/8/2023:
Ông Liêu Phát T2 có quan hệ bà con cô cậu với ông Huỳnh Văn T và ông Nguyễn Văn C. Ông T2 có ở nhà bà Trương Thị S từ năm 1974 đến năm 1977 nên biết nguồn gốc thửa đất tranh chấp số 215 là của bà S mua lại của ông Danh L1 vào năm 1972. Bà S mua đất nhưng không canh tác mà cho chị là bà Trương Thị H4 (mẹ ông Nguyễn Văn C) mượn trồng hoa màu. Ông T2 có chở bà S lên thửa đất này để thăm vườn, sau này bà S chết thì xảy ra tranh chấp.
- Theo trình bày của ông Danh L tại biên bản lấy lời khai ngày 10/8/2023:
Ông Danh L là con ruột ông Danh L1 (đã chết). Vào năm 1977, ông L1 có bán cho bà S một mảnh đất tại hẻm A đường T, khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Sau khi bán đất thì ông L1 có nói lại với ông L.
- Theo trình bày của ông Lâm Văn Ẻ tại tờ tường trình ngày 25/7/2023 và tại phiên tòa:
Mẹ ông Lâm Văn Ẻ là Trương Nài H2, bà H2 là chị ruột của bà Trương Thị S (mẹ ông T) và bà Trương Thị H3 (mẹ ông C). Ông Ẻ biết thửa đất tranh chấp có nguồn gốc của bà S mua, bà S khi còn sống mua bán ở chợ S2, nhưng cha mẹ thì ở Phường A nên mua đất ở đó. Khi bà S chết vào năm 1979, bà H2 chết vào năm 2003 thì được chôn cất trên đất này, lúc đó trên đất không có nhà cửa gì.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:
Căn cứ vào: Điều 255 của Bộ luật Dân sự năm 1995 (sau này là Điều 247, Điều 261 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 184, Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T về việc công nhận thửa đất số 215, tờ bản đồ số 12, diện tích 781,9m² (theo đo đạc thực tế 957,30m²) tọa lạc tại khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Huỳnh Văn T.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T về việc buộc ông Nguyễn Văn C và gia đình di dời các tài sản trên đất để trả lại thửa đất số 215, tờ bản đồ số 12, diện tích 781,9m² (đo đạc thực tế 957,30m²) tọa lạc tại khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cho ông Huỳnh Văn T.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU 017513 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Nguyễn Văn C ngày 19/6/2020.
- Ông Huỳnh Văn T được quyền sử dụng phần đất có diện tích 37,8m² thuộc thửa đất số 215, tờ bản đồ số 12, diện tích 781,9m² (theo đo đạc thực tế 957,30m²) tọa lạc tại khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng để làm lối đi từ thửa đất số 205 vào mộ phần của cụ Trương Thị S; đất có kích thước, vị trí như sau:
- + Phía Đông giáp phần đất còn lại thuộc thửa đất số 215, có số đo 13,5m;
- + Hướng Tây giáp phần đất còn lại thuộc thửa đất số 215, có số đo 12,5m;
- + Phía Bắc giáp thửa đất số 205, có số đo 2,86m;
- + Phía Nam giáp mộ cụ Trương Thị S, có số đo 2,9m.
(có sơ đồ vị trí kèm theo)
- Ông Nguyễn Văn C có trách nhiệm tháo dỡ đoạn hàng rào có diện tích 5,72m² (dài 2,86m, cao 02m), kết cấu cột bê tông cốt thép, xây gạch lửng + lưới B40 tại vị trí giáp thửa đất số 205 để giao ông Huỳnh Văn T diện tích đất nêu trên.
- Ông Huỳnh Văn T có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Văn C giá trị của diện tích 37,8m² đất với số tiền 19.164.600 đồng và giá trị của 5,72m² hàng rào với số tiền 5.359.640 đồng; tổng cộng là 24.524.240 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, trách nhiệm thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 29/8/2024, nguyên đơn ông Huỳnh Văn T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Huỳnh Văn T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn sửa bản án sơ thẩm, công nhận diện tích đất đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn.
Bị đơn ông Nguyễn Văn C và người đại diện theo ủy quyền đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Văn T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Huỳnh Văn T; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét thẩm tra, kết quả hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Huỳnh Văn T làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
Nguyên đơn ông Huỳnh Văn T khởi kiện yêu cầu công nhận thửa đất số 215, tờ bản đồ số 12, diện tích 781,9m² (theo đo đạc thực tế 957,30m²) tọa lạc tại khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Huỳnh Văn T. Ông T cho rằng diện tích đất trên có nguồn gốc do mẹ ông T là bà Trương Thị S nhận chuyển nhượng của ông Danh L1 từ năm 1977; phần đất này gia đình ông T sử dụng để chôn cất bà S và những người khác trong thân tộc. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc nhận chuyển nhượng đất của cụ S. Đối với những người làm chứng là ông Liêu Phát T2, ông Danh L, Lâm Văn Ẻ, Trương Ú, Lý Sía K2 đều không trực tiếp chứng kiến việc chuyển nhượng giữa cụ S và ông Danh L1 vào khoảng năm 1977.
Theo Công văn số 498/UBND-HC ngày 21/3/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố S và Công văn số 2059/CV-STNMT.VPĐK ngày 01/8/2023 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S thì thửa đất số 215, tờ bản đồ số 12, tại khóm A, Phường A, thành phố S theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thị xã S (nay là thành phố S) cấp cho hộ ông Nguyễn Đình T1 (cha ông Nguyễn Văn C) ngày 19/6/2001 là vị trí thửa đất số 1080, tờ bản đồ số 1 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho cho hộ ông Nguyễn Đình T1 ngày 08/01/1993.
Hồ sơ vụ án thể hiện vào ngày 29/6/1992, ông Nguyễn Đình T1 có đơn xin đăng ký quyền sử dụng các thửa đất số 1109, 879, 1080 và 618, tờ bản đồ số 01, tổng diện tích 6.965m², tọa lạc tại ấp T, xã Đ, huyện M, tỉnh Sóc Trăng. Đến ngày 08/01/1993, hộ ông T1 được Ủy ban nhân dân huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất này, trong đó thửa đất số 1080 có diện tích 357m². Vào ngày 16/10/2000, ông T1 có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất thửa đất số 215, tờ bản đồ số 12, diện tích 755m², tọa lạc tại khóm T, Phường A, thị xã S, tỉnh Sóc Trăng. Đến ngày 19/6/2001, Ủy ban nhân dân thị xã S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số T 017853 cho hộ Nguyễn Đình T1 đối với thửa đất này. Sau khi ông T1 chết, chị em ruột của ông Nguyễn Văn C lập văn bản thoả thuận ngày 29/4/2020 cho ông C được hưởng thừa kế toàn bộ thửa đất trên. Đến ngày 19/6/2020, ông C được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CU 017513, đất có số thửa 215, tờ bản đồ số 12, diện tích 781,9m², tại khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
Như vậy, phần diện tích đất tranh chấp do ông Nguyễn Đình T1 (cha ông Nguyễn Văn C) đăng ký kê khai từ năm 1992 và được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất.
Về quá trình sử dụng đất, nguyên đơn cho rằng năm 1979, sau khi qua đời thì gia đình chôn cất bà S trên phần đất này, do là bà con bạn dì nên nguyên đơn cho bị đơn trồng trọt trên phần đất trống và chăm sóc mồ mã, hàng năm nguyên đơn đều đi tảo mộ mẹ vào tết Thanh minh ở phần đất này nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối hay tranh chấp gì. Xét thấy, việc nguyên đơn chôn cất mẹ là bà Trương Thị S trên đất không phải là căn cứ để xác lập quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp. Thực tế, bị đơn là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất; theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện trên phần đất tranh chấp có nhà ở, chuồng trại, hàng rào được bị đơn xây dựng kiên cố.
Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu của nguyên đơn về việc công nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 215 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Kháng cáo của nguyên đơn không có cơ sở chấp nhận; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Huỳnh Văn T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông T là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Văn T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
Áp dụng: Điều 255 của Bộ luật Dân sự năm 1995 (sau này là Điều 247, Điều 261 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 184, Điều 236 Bộ luật Dân sự năm 2015); Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T về việc công nhận thửa đất số 215, tờ bản đồ số 12, diện tích 781,9m² (theo đo đạc thực tế 957,30m²) tọa lạc tại khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Huỳnh Văn T.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T về việc buộc ông Nguyễn Văn C và gia đình di dời các tài sản trên đất để trả lại thửa đất số 215, tờ bản đồ số 12, diện tích 781,9m² (đo đạc thực tế 957,30m²) tọa lạc tại khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cho ông Huỳnh Văn T.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Văn T về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU 017513 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Nguyễn Văn C ngày 19/6/2020.
- Ông Huỳnh Văn T được quyền sử dụng phần đất có diện tích 37,8m² thuộc thửa đất số 215, tờ bản đồ số 12, diện tích 781,9m² (theo đo đạc thực tế 957,30m²) tọa lạc tại khóm A, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng để làm lối đi từ thửa đất số 205 vào mộ phần của cụ Trương Thị S; đất có kích thước, vị trí như sau:
- + Phía Đông giáp phần đất còn lại thuộc thửa đất số 215, có số đo 13,5m;
- + Hướng Tây giáp phần đất còn lại thuộc thửa đất số 215, có số đo 12,5m;
- + Phía Bắc giáp thửa đất số 205, có số đo 2,86m;
- + Phía Nam giáp mộ cụ Trương Thị S, có số đo 2,9m.
(có sơ đồ vị trí kèm theo)
- Ông Nguyễn Văn C có trách nhiệm tháo dỡ đoạn hàng rào có diện tích 5,72m² (dài 2,86m, cao 02m), kết cấu cột bê tông cốt thép, xây gạch lửng + lưới B40 tại vị trí giáp thửa đất số 205 để giao ông Huỳnh Văn T diện tích đất nêu trên.
- Ông Huỳnh Văn T có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Văn C giá trị của diện tích 37,8m² đất với số tiền 19.164.600 đồng và giá trị của 5,72m² hàng rào với số tiền 5.359.640 đồng; tổng cộng là 24.524.240 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
7/. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng sơ thẩm được thực hiện theo quyết định của bản án sơ thẩm.
8/. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Văn T được miễn.
9/. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
10/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSND cấp cao tại TP.HCM; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng; - Đương sự (9); - Lưu VP(5), HS(2).21b.NTT. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thanh Dũng |
Bản án số 190/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 190/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Văn T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 67/2024/DS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
