Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 190/2024/HS-ST

Ngày: 10 - 9 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều Lương

Thẩm phán: Bà Hà Thị Thanh Nữ

Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Huệ

Bà Mai Thị Hồng Liên

Bà Đặng Thị Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 199/2024/TLST-HS ngày 20/8/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 217/2024/QĐXX-ST ngày 28/8/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn C, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 12 tháng 12 năm 1971, tại tỉnh Bình Thuận.

Nơi đăng ký thường trú: ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: Lớp 6/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Văn K, đã chết và con bà: Nguyễn Thị T, đã chết. Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai. Có vợ: Nguyễn Thị A, sinh năm 1972 (đã ly hôn), có 03 con chung, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2000. C sống như vợ chồng với chị Ngô Thị Thúy H, sinh năm 1977.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 01 tháng 5 năm 2024 chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số: 377/LTG-CSĐT-ĐTTH ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X, tỉnh Đồng Nai. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.

Bào chữa cho bị cáo theo pháp luật, có Luật sư Lê Văn T1, thuộc Văn phòng L; Đoàn luật sư tỉnh Đ.

Bị hại: chị Ngô Thị Thúy H, sinh năm 1977,

Thường trú tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo, bị hại có mặt, luật sư bào chữa cho bị cáo có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính Nguyễn Văn C và chị Ngô Thị Thúy H, sinh năm 1977, thường trú tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, có quan hệ tình cảm, chung sống với nhau từ tháng 02 năm 2023 tại nhà của chị H. Trong quá trình chung sống, C thường xuyên uống rượu và có lời qua tiếng lại với chị H nên Nguyễn Trường K1, sinh năm 2008 là con ruột của chị H không đồng ý cho C ở lại nhà. Do đó, C chuyển đến nơi khác sinh sống.

Ngày 30 tháng 4 năm 2024, C đến nhà gặp chị H nhờ gửi số cá đi câu được để sáng mai đi bán. Đến khoảng 8 giờ ngày 01 tháng 5 năm 2024, C đến nhà chị H và rủ chị H cùng đi bán cá. Sau khi bán cá xong, khoảng 9 giờ 30 phút, C và chị H về nhà chị H thì gặp K1. K1 nói với chị H không đồng ý cho C ở lại nhà. Thấy vậy, C có nói với chị H ở lại ăn cơm trưa xong rồi đi và được chị H đồng ý. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, C mang đồ đi ra xe gắn máy biển số 61GA-005.40 đứng phía trước để đi về thì chị H đi ra, C và chị H ngồi xuống ghế đá nói chuyện. Sau đó, C đi vào nhà và kêu chị H vào nhà để nói chuyện nhưng chị H không vào. C nói “Có chuyện quan trọng cần nói" nên chị H đứng dậy đi vào và đứng phía ngoài cửa, C nói "Em có tin anh giết em không?”, chị H nói “Anh nói câu này nhiều lần rồi” và bỏ ra ghế đá ngồi. Do bực tức nên C đi vào nhà bếp lấy 01 con dao bằng kim loại màu đen dài 33cm, phần lưỡi dao rộng nhất 07cm đi đến phía sau chị H chém liên tiếp nhiều nhát từ trên xuống trúng vào gáy trái và đỉnh đầu chị H. Lúc này, chị H kêu và giơ hai tay lên che đầu, C tiếp tục dùng dao chém liên tiếp nhiều nhát trúng vào hai tay của chị H làm chị H gục xuống. Sau khi thấy chị H gục xuống, C tiếp tục dùng dao chém nhiều nhát trúng vào mặt chị H. Trong lúc C đang gây án thì chị Phạm Thị Thu K2, sinh năm 1994, thường trú tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai đi ngang phát hiện và truy hô. C vứt bỏ con dao và lấy xe gắn máy biển số 61GA-005.40 bỏ chạy được một đoạn thì bị quần chúng nhân dân bắt giữ báo cho Cơ quan Công an xã X, huyện X lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn C.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Nguyễn Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

2. Vật chứng thu giữ: 01 con dao bằng kim loại màu đen dài 33cm, bản rộng 07cm (đã được niêm phong).

3. Khám nghiệm hiện trường: Tại biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ án ngày 01 tháng 5 năm 2024, tại tổ A, ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai là nhà của chị Ngô Thị Thúy H như sau: Phía trước phòng khách nhà chị H, cách phòng khách 04m, cách mép đường X, Trảng Táo 20,6m cạnh bờ bán đá để trên nền đất phía trước nhà. Tại hiện trường có 01 con dao màu đen có chiều dài 33cm, chiều rộng của bản dao dài 07cm, kích thước vùng máu dài 180cm, chiều rộng 110cm.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 2750/KLTTCT-C09B ngày 07/5/2024 của P Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận chị Ngô Thị Thúy H như sau:

3.1. Các kết quả chính:

  • - Vùng đầu có 07 vết thương phần mềm, bờ mép gọn:
    • + 01 vết thương kích thước trung bình.
    • + 06 vết thương kích thước nhỏ.
  • - Chi trên có 05 vết thương phần mềm, bờ mép gọn kích thước nhỏ (tay trái 02 vết, tay phải 03 vết).
  • - Vùng mặt có 08 vết thương:
    • - 05 vết thương phần mềm đã khâu, bờ mép gọn, kích thước nhỏ.
    • - 03 vết thương phần mềm đã khâu, bờ mép gọn, kích thước trung bình,
  • - Xuất huyết dưới nhện vùng đỉnh trái.
  • - Nứt sọ vùng thái dương – đỉnh trái dài 05cm. Nứt bản ngoài sọ vùng thái dương – chẩm trái dài 04cm.
  • - Vỡ bản ngoài xương trán trái. Vỡ mõm chũm trái.
  • - Gãy cung gò má hai bên. Gãy thành xoang hàm phải. Gãy thành hốc mắt phải. Gẫy răng 12, 22, 23.

3.2. Kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Ngô Thị Thúy H là: 76%.

*Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 2751/KLTTCT-C09B ngày 07/5/2024 của của P Bộ C1 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận chị Ngô Thị Thúy H như sau:

a) Các kết quả chính.

  • - Vùng đầu có 07 vết thương phần mềm, bờ mép gọn:
    • + 01 vết thương kích thước trung bình.
    • + 06 vết thương kích thước nhỏ.
  • - Chi trên có 05 vết thương phần mềm, bờ mép gọn kích thước nhỏ (tay trái 02 vết, tay phải 03 vết).
  • - Vùng mặt có 08 vết thương:
    • + 05 vết thương phần mềm đã khâu, bờ mép gọn, kích thước nhỏ.
    • + 03 vết thương phần mềm đã khâu, bờ mép gọn, kích thước trung bình.
  • - Xuất huyết dưới nhện vùng đỉnh trái.
  • - Nứt sọ vùng thái dương - đỉnh trái dài 05cm.
  • - Nứt bản ngoài sọ vùng thái dương – chẩm trái dài 04cm.
  • - Vỡ bản ngoài xương trán trái. Vỡ mõm chũm trái.
  • - Gãy cung gò má hai bên. Gãy thành xoang hàm phải. Gãy thành hốc mắt phải. Gẫy răng 12, 22, 23.

Kết luận: Các thương tích trên người Ngô Thị Thúy H có đặc điểm phù hợp do vật sắc có trọng lượng lớn tác động gây ra.

4. Truy tố: Cáo trạng số 171/CT-VKS-P2 ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

5. Ý kiến của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo xác định tất cả lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay bức cung. Kết luận điều tra cũng như bản cáo trạng truy tố bị cáo ra trước tòa hoàn toàn phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

6. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

6.1. Về tội danh, trách nhiệm hình sự, quan điểm truy tố và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội như cáo trạng đã quy kết đối với bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Giết người”. Trong phần luận tội đã phân tích tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của bị cáo, hậu quả xảy ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

6.2. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo cố tình thực hiện hành tội phạm đến cùng nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

6.3. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo là người lao động, học vấn thấp. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

6.4. Điều luật áp dụng và mức án đề nghị: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm e khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C mức án từ 14 đến 16 năm tù

6.5. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 con dao bằng kim loại màu đen dài 33cm, bản rộng 07cm là hung khí gây án không còn giá trị sử dụng.

6.6. Về bồi thường dân sự: Đề nghị bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại theo quy định.

6.7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

7. Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo theo quy định của pháp luật trình bày tại phiên tòa:

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra bị cáo cũng đã thừa nhận hành vi của mình và khi nhận kết luận điều tra cũng như Cáo trạng thì bị cáo cũng không có ý kiến gì. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền về tính mạng, sức khỏe của người bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và đáng bị lên án. Tuy nhiên, bị cáo đã ăn năn, hối cải, thành thật khai báo, chưa có tiền án, tiền sự thuộc thành phần lao động. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định ở khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức hình phạt phù hợp với hành vi sai phạm của của bị cáo, mang tính giáo dục hơn là hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cũng như tại phiên tòa, hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của Pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ, quyền được bào chữa và tự bào chữa của bị cáo, bị hại được bảo đảm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều phù hợp.

- Luật sư Lê Văn T1 bào chữa cho bị cáo theo pháp luật có đơn xin vắng mặt, gửi bài bào chữa cho bị cáo và Hội đồng xét xử. Tại phiên tòa bị cáo cũng đồng ý với sự vắng mặt của Luật sư. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt đối với Luật sư T1

[2] Về nội dung vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ, kết quả giám định pháp y; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản thu nhận vật chứng, cùng các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ trong vụ án, đối chiếu với lời khai của bị hại và người làm chứng, phù hợp với hành vi của bị cáo thực hiện đúng như Kết luận điều tra và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã mô tả, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 01 tháng 5 năm 2024, tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn C đã vô cớ lấy 01 con dao bằng kim loại màu đen, chiều dài 33cm, bản rộng 07cm chém nhiều nhát trúng vào đầu, mặt và tay của chị Ngô Thị Thúy H gây nứt sọ, vỡ xương trán, gãy cung gò má và gãy răng với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 76%. Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Giết người” được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng sức khỏe của bị hại, coi thường tính mạng sức khỏe người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, thể hiện hành động rất quyết liệt, thực hiện hành vi phạm tội đến cùng, việc chị H không chết do yếu tố khách quan và được phát hiện kịp thời, nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt đối với bị cáo thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm mục đích giáo dục và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3]. Về hình phạt áp dụng cho bị cáo:

3.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo “ Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” nên phạm vào tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự .

3.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, chưa có tiền án tiền sự, là dân lao động. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét cho bị cáo.

[4] Về phần trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng số tiền điều trị thương tật, tiền tổn thất tinh thần tổng cộng là 336.718.960đ, bị cáo cũng đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Quan điểm của đại điện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai và quan điểm của Luật sư bào chữa cho bị cáo tại tại bài bào chữa về hành vi phạm tội, tội danh và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 16.835.946 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Giết người”.

2. Áp dụng pháp luật và quyết định hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm e khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 15 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/5/2024.

3. Về phần bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 591, 593 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải bồi thường cho chị Ngô Thị T2 Hằng số tiền 336.718.960đ (ba trăm ba mươi sáu triệu, bảy trăm mười tám nghìn, chín trăm sáu mươi đồng).

4. Thi hành án:

- Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại màu đen dài 33 bản rộng 07cm.

Tình trạng vật chứng, tài sản: Đã qua sử dụng, cũ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/8/2024 theo Phiếu nhập NK24/169 ngày 06/8/2024).

6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, và 16.835.946 đồng (mười sáu triệu tám trăm ba mươi năm nghìn, chín trăm bốn sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

7. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; (1)
  • - Bị hại; (1)
  • - Luật sư (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Phòng PV 06 – Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Đồng Nai (PC 01);
  • - Phòng Thi hành án hình sự Tòa án tỉnh;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai;
  • - Lưu hồ sơ, VP, TP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Kiều Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm về tội giết người

  • Số bản án: 190/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 17 giờ ngày 01 tháng 5 năm 2024, tại ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Văn C đã vô cớ lấy 01 con dao bằng kim loại màu đen, chiều dài 33cm, bản rộng 07cm chém nhiều nhát trúng vào đầu, mặt và tay của chị Ngô Thị Thúy H gây nứt sọ, vỡ xương trán, gãy cung gò má và gãy răng với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 76%. Hành vi của bị cáo thực hiện đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Giết người” được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger