Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 190/2024/HS - ST

Ngày 28/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Cẩm Lình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Rạng Đông.

Bà Nguyễn Thị Thu Ba.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Nam - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 155/2024/TLST- HS ngày 27 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2024/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lâm Minh C (tên gọi khác: Tuấn M) sinh ngày 17/12/1989 (giới tính nam), tại Quận E - Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi thường trú: Ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Nơi ở hiện tại: Ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang). Số CMND/CCCD/Hộ chiếu: [...], cấp ngày 28/3/2023, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lâm Tuấn V (sinh năm: 1941, đã chết) và bà Bùi Kim L (sinh năm: 1949, đã chết); Vợ Đỗ Thị Hoàng O, sinh năm:1982, con: Lâm Hoàng Nhựt A, sinh năm: 2012; Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 18/01/2024, bị cáo bị bắt trong trường hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ đến ngày 26/01/2024 bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành P cho đến nay.

2. Đỗ Thị Hoàng Y (giới tính nữ) sinh ngày 11/6/1980, tại P - Kiên Giang. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Số CMND/CCCD/Hộ chiếu: [...], cấp ngày 07/8/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát QLHC về TTXH; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Đỗ Văn H (sinh năm: 1953) và bà Võ Thị T (sinh năm: 1956); anh chị em có 03 người, lớn nhất sinh năm 1978, nhỏ nhất sinh năm 1987; Chồng Hồ Quốc N, sinh năm 1977; Con: 02 người, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009. Tiền án, tiền sự: Không.

Ngày 18/01/2024, bị cáo bị bắt trong trường hợp giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bị tạm giữ đến ngày 26/01/2024 bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành P cho đến nay.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người bị hại: Anh Trần Văn T1, sinh năm: 1977. Địa chỉ: Khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Nguyễn Long Mỹ T2, sinh năm: 1991. Địa chỉ hiện tại: Ấp C, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt không có lý do).

- Bà Đỗ Thị Hoàng O, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Có mặt)

- Anh Hồ Quốc N, sinh năm: 1976. Địa chỉ: Khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).

* Người làm chứng: Chị Trần Minh T3, sinh năm: 1998. Địa chỉ: Khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do quen biết với nhau từ trước nên vào khoảng tháng 10 năm 2023, anh Trần Văn T1 có trao đổi với Đỗ Thị Hoàng Y về việc con anh T1 là Trần Hạo N1 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P khởi tố, bắt tạm giam về tội Cướp tài sản, Y nói có nhiều mối quan hệ quen biết sẽ nhờ người lo giúp cho con anh T1 được tại ngoại và được hưởng án treo nên anh T1 nhờ Y lo cho con anh T1.

Y gọi điện thoại cho Lâm Minh C là em rễ của Y, nói với C việc anh T1 nhờ lo cho con anh T1 tại ngoại, C kêu Y gửi hình con anh T1 qua. Đến ngày 13/10/2023, C nói với Y có người nhận lo giúp con anh T1 với số tiền 400.000.000 đồng, nhưng Y bàn với C thống nhất nói với anh T1 đưa số tiền là 450.000.000 đồng, số tiền chênh lệch 50.000.000 đồng cả hai chia nhau, Y nói lại với anh T1 thì anh T1 đồng ý.

C kêu Y nói với anh T1 đưa trước 200.000.000 đồng, nhưng Y điện thoại cho anh T1 nói đưa trước số tiền 250.000.000 đồng để chạy lo công việc khi nào có quyết định của Tòa án sẽ đưa phần còn lại. Ngày 15/10/2023, anh T1 đến nhà Y tại ấp C, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang đưa cho Y số tiền 250.000.000 đồng, Y nhận tiền và cam kết trong vòng từ 05 đến 07 ngày tới con anh T1 sẽ được tại ngoại.

Sau khi nhận tiền, cùng ngày Y điện thoại hẹn gặp C tại quán C2 trên đường H, khu phố A, phường D, thành phố P, Y đưa cho C 200.000.000 đồng và Y giữ lại cho Y 50.000.000 đồng. Khoảng mười ngày sau, C kêu Y nói với anh T1 đưa thêm 50.000.000 đồng để lo cho con anh T1, nhưng Y gọi điện thoại yêu cầu anh T1 đưa thêm 100.000.000 đồng, anh T1 đồng ý, anh T1 kêu con gái là Trần Minh T3 đến ngã ba C Ngoài đưa cho Y 100.000.000 đồng, cùng ngày Y hẹn gặp C tại quán C3 trên đường L thuộc khu phố E, phường D, Y đưa cho C 50.000.000 đồng, Y giữ lại cho Y 50.000.000 đồng, tổng số tiền 350.000.0000 đồng chiếm đoạt được C và Y đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 10/11/2023, con anh T1 là Trần Hạo N1 khi phạm tội là người chưa thành niên nên được cho gia đình bảo lĩnh, áp dụng biện pháp cấm đi khởi nơi cư trú để điều tra, Y nói là do Y nhờ người lo và yêu cầu anh T1 đưa thêm 50.000.000 đồng, nhưng anh T1 không đồng ý, Y đe doạ nếu anh T1 không đồng ý sẽ không làm nữa và kêu người bắt giam N1. Nghi bị lừa đảo nên anh T1 làm đơn tố giác Y đến Cơ quan Cảnh sát điều tra.

Ngày 18/01/2024, Đỗ Thị Hoàng Y và Lâm Minh C bị bắt giữ, đến ngày 26/01/2024, Đỗ Thị Hoàng Y và Lâm Minh C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13Pro max màu xanh riêu, dung lượng 128Gb, số Imel 358216486094071, đã qua sử dụng (do Lê Minh C1 giao nộp).

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13Pro max màu xanh, dung lượng 256Gb, số Imel 351339416684485, đã qua sử dụng (do Đỗ Thị Hoàng Y giao nộp).

- Tiền Việt Nam 350.000.000 đồng (đã trả lại cho bị hại).

* Tại Cáo trạng số 157/CT-VKSPQ ngày 26/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang truy tố Lâm Minh Châu và Đỗ Thị Hoàng Yến về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Áp dụng quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

* Tại phiên tòa:

1. Đại diện Viện kiểm sát kết luận: Các bị cáo Lâm Minh C và Đỗ Thị Hoàng Y phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự và đề nghị HĐXX áp dụng:

  • + Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Minh C mức hình phạt từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (Bốn) năm tù.
  • + Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Hoàng Y mức hình phạt từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn T1 đã nhận đủ số tiền 350.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.
  • - Về xử lý vật chứng: khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu vào sung ngân sách nhà nước, bao gồm:
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13Pro max màu xanh riêu, dung lượng 128Gb, số Imel 358216486094071, đã qua sử dụng (do Lê Minh C1 giao nộp).
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13Pro max màu xanh, dung lượng 256Gb, số Imel 351339416684485, đã qua sử dụng (do Đỗ Thị Hoàng Y giao nộp).

(Vật chứng đã được nhập kho vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 152/QĐ-VKSPQ ngày 26/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang).

- Đối với anh Hồ Quốc N và chị Đỗ Thị Hoàng O không có yêu cầu gì đối với số tiền đã bồi thường thay các bị cáo nên không đề nghị xem xét.

Riêng chị Nguyễn Long Mỹ T2 đã nộp bồi thường thay cho bị cáo C1 số tiền 100.000.000 đồng nhưng tại phiên tòa chị T2 vắng mặt không có ý kiến nên khi chị T2 có yêu cầu thì chị T2 có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác.

- Về án phí HSST: Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định.

2. Các bị cáo Lâm Minh C và Đỗ Thị Hoàng Y: Thừa nhận hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

3. Anh Hồ Quốc N và chị Dỗ Thị Hoàng O1: Xác nhận, có nộp thay cho các bị cáo tiền bồi thường cho bị hại nhưng không yêu cầu gì đối với số tiền này.

4. Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân các bị cáo gây ra, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận dịnh như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó đủ căn cứ xác định: Trong tháng 10 năm 2023, Lâm Minh C và Đỗ Thị Hoàng Y cùng nhau bàn bạc, đưa thông tin không đúng về việc nhờ người giúp đỡ lo cho Trần Hạo N1 là con của anh Trần Văn T1 được tại ngoại và được hưởng án treo trong vụ án Cướp tài sản do N1 thực hiện với số tiền 450.000.000 đồng. Tuy nhiên C, Y mới chiếm đoạt được số tiền 350.000.000 đồng, trong đó Y chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng và C chiếm đoạt số tiền 250.000.000 đồng thì bị anh T1 phát hiện lừa đảo nên tố giác đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P. Ngày 18/01/2024, Đỗ Thị Hoàng Y, Lâm Minh C bị bắt giữ, đến ngày 26/01/2024, Đỗ Thị Hoàng Y và Lâm Minh C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố, tạm giam để điều tra.

Do đó, HĐXX có cơ sở khẳng định Cáo trạng số 157/CT-VKSPQ ngày 26/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố các bị cáo Lâm Minh C và Đỗ Thị Hoàng Y về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân các bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự, có hiểu biết về pháp luật và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà các bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối, không có thật, nói có có nhiều mối quan hệ quen biết nhờ lo giúp gia đình của bị hại để tạo niềm tin nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại. Tổng số tiền mà các bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại là 350.000.000 đồng.

Hành vi phạm tội của các bị cáo không chỉ xâm phạm đến quyền sỡ hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đế uy tín của các cá nhân, các cơ quan tiến hành tố tụng và ảnh hưởng đến trật tự trị an, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với hành vi của các bị cáo đã gây ra nhằm giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét vai trò, tính chất mức độ của từng bị cáo: Tuy người khởi xướng là bị cáo Y nhưng người có vai trò chính trong vụ án là bị cáo C. Bởi qua lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, thấy rằng bị cáo Y là chỉ người giúp sức cho bị cáo C như việc nhận các thông tin trao đổi, đưa ra số tiền cụ thể, nhận tiền trực tiếp với bị hại số tiền 350.000.000 đồng, bị cáo đưa cho bị cáo C số tiền 250.000.000 đồng và giữ lại số tiền 100.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích cá nhân bị cáo.

Đối với bị cáo C là người trực tiếp đưa ra những thông tin gian dối như có mối quan hệ quen biết với những cá nhân có thể giải quyết được yêu cầu của bị hại nhằm tạo niềm tin đối với bị hại, trực tiếp đưa ra số tiền cụ thể, nhận tiền từ bị cáo C và dùng số tiền 250.000.000 đồng chiếm đoạt của bị hại nhận từ bị cáo Y để sử dụng hết vào mục đích cá nhân nên bị cáo C phải chịu mức án cao hơn bị cáo Y mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.
  • - Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải và đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại. Đồng thời, phía bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên HĐXX áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự làm tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo.

Ngoài ra, bị cáo Y có cha là thương binh và bị cáo C có vợ bị khuyết tật bẩm sinh nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Văn T1 đã nhận đủ số tiền 350.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm nên HĐXX miễn xét.

Đối với anh N và chị O1, do không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Riêng chị T2 khi nào có yêu cầu đối với số tiền 100.000.000 đồng nộp thay bị cáo C thì có quyền khởi kiện thành 01 vụ kiện dân sự khác.

[7] Xét đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng cũng như việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là có căn cứ nên HĐXX ghi nhận.

[8] Về xử lý vật chứng:

  • - Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 USB (kèm theo hồ sơ vụ án)
  • - Tịch thu vào sung ngân sách nhà nước:
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13Pro max màu xanh riêu, dung lượng 128Gb, số Imel 358216486094071, đã qua sử dụng (do Lê Minh C1 giao nộp).
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13Pro max màu xanh, dung lượng 256Gb, số Imel 351339416684485, đã qua sử dụng (do Đỗ Thị Hoàng Y giao nộp).

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu án phí là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Lâm Minh C và Đỗ Thị Hoàng Y phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1.1 Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Minh C 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 18/01/2024.

1.2 Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị Hoàng Y 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng. Thời hạn tù được tính từ ngày 18/01/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn T1 anh Hồ Quốc N và chị Đỗ Thị Hoàng O, không có yêu cầu gì nên HĐXX miễn xét.

Riêng chị Nguyễn Long Mỹ T2 khi nào có yêu cầu đối với số tiền 100.000.000 đồng nộp thay bị cáo C thì có quyền khởi kiện thành 01 vụ kiện dân sự khác.

3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 và khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13Pro max màu xanh riêu, dung lượng 128Gb, số Imel 358216486094071, đã qua sử dụng (do Lê Minh C1 giao nộp).
  • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13Pro max màu xanh, dung lượng 256Gb, số Imel 351339416684485, đã qua sử dụng (do Đỗ Thị Hoàng Y giao nộp).

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 152/QĐ-VKSPQ ngày 26/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang)

- Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 USB đã qua sử dụng (Đính kèm theo hồ sơ vụ án).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Lâm Minh C, Đỗ Thị Hoàng Y, mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, anh N, chị O có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 28/11/2024).

Riêng bị hại và chị T2 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tp. Phú Quốc;
  • - TAND tỉnh KG;
  • - Sở TP tỉnh Kiên Giang;
  • - Công an Tp. Phú Quốc;
  • - Chi cục THADS Tp. Phú Quốc;
  • - Các bị cáo; bị hại, NLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án & VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trịnh Thị Cẩm Lình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2024/HS - ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 190/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang truy tố Lâm Minh C và Đỗ Thị Hoàng Y về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger