TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:190/2024/HS-PT Ngày: 30-9-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Trân Anh
Ông Nguyễn Thanh Phong
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Bà Đỗ Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo Vũ Duy L, Nguyễn Thanh P, Huỳnh Văn H, Trần Phi L1 và Châu Phước L2, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 72/2024/HS-ST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
* Các bị cáo có kháng cáo:
- Họ và tên: Vũ Duy L, sinh ngày 06/02/1986 tại huyện P, tỉnh Cà Mau. Nơi đăng ký thường trú: Khóm G, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau; chỗ ở: Số I, đường S, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; gới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T (đã chết) và bà Lê Thị Ú, sinh năm 1950; có vợ Thị Kim A, sinh năm 1990 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam: Không (Có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Nguyễn Thanh P (thường gọi N), sinh ngày 06/6/1985 tại huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh; chỗ ở: Số C, đường T, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1940 và bà Nguyễn Thị B (đã chết); có vợ Lâm Thị Thu T2, sinh năm 1988, không có con; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam: Không (Có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Huỳnh Văn H, sinh ngày 18/9/1989 tại thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú: Số A, đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1968 và bà Thạch Thị L3, sinh năm 1966; có vợ Hà Thị Kim O, sinh năm 1988 và 02 người con, sinh năm 2008 và năm 2012; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam: Không (Có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Trần Phi L1, sinh ngày 05/9/1992 tại huyện T, tỉnh Vĩnh Long; Nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nơi tạm trú: Nhà T, ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc G (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hồng L4, sinh năm 1967; có vợ Thị Bích L5, sinh năm: 1992 và 01 người con, sinh năm 2019; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 18/11/2011, Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Long đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc trong thời hạn 12 tháng theo quyết định số 6103, chấp hành xong ngày 03/102012; bị tạm giữ, tạm giam: Không (Có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Châu Phước L2, sinh ngày 04/6/1980 tại thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú: Số A, đường T, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu C, sinh năm 1951và bà Phạm Thị M (đã chết); có vợ Trương Ngọc B1, sinh năm 1984 và 01 người con, sinh năm: 2003; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam: Không (Có mặt tại phiên tòa).
- Người bào chữa cho các bị cáo Châu Phước L2, Vũ Duy L và Huỳnh Văn H: Luật sư Lê Trọng H2 - Văn phòng L7 thuộc Đoàn luật sư tỉnh K (Có mặt).
- Người bữa cho bị cáo Trần Phi L1: Luật sư Huỳnh Quốc C1 - Văn phòng luật sư Trần Minh H3 thuộc Đoàn luật sư tỉnh K (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cửa hàng vật liệu xây dựng Đ do ông Lê Tùng K làm chủ, trong quá trình kinh doanh ông K có giao cho Châu Phước L6 làm quản lý kho vật liệu xây dựng của Cửa hàng tại số E đường T, phường A, thành phố R, Kiên Giang (sau đây gọi là kho). Hàng ngày khi có khách hàng mua vật liệu xây dựng thì kế toán là Tống Thị T3 trực tiếp ghi phiếu xuất hàng (hóa đơn) và giao cho các tài xế xe ô tô tải của Cửa hàng V1 mang phiếu xuất hàng đến kho để nhận hàng giao cho khách. Ngoài ra, Cửa hàng V1 còn hợp tác với Cửa hàng Vật liệu xây dựng C (Cửa hàng C) trong việc mua bán vật liệu xây dựng bằng hình thức khi khách hàng của Cửa hàng C2 mua vật liệu thì Cửa hàng C2 ra hóa đơn giao cho tài xế xe ô tô tải của Cửa hàng C2 đến kho của Cửa hàng V1 để nhận hàng. Khi đến nhận hàng thì các tài xế phải đưa phiếu xuất hàng (hóa đơn) cho Châu Phước L6 kiểm tra và xuất hàng theo hóa đơn.
Với mục đích để có tiền tiêu xài, Châu Phước L6 đã bàn bạc với các tài xế của cửa hàng C2 gồm: Nguyễn Anh K1 (Líp), Vũ Duy L, Lâm Thái S lấy trộm vật liệu của cửa hàng V1 bán lấy tiền tiêu xài thì K1, L, S đồng ý. Riêng Huỳnh Phước T4 (tài xế của hàng Cẩm V) L6 không có bàn bạc trước nhưng sau khi biết được sự việc T4 đã tham gia lấy trộm cùng với L6. Ngoài ra, các tài xế của Cửa hàng V1 gồm: Châu Phước L2, Châu Phước H4, Nguyễn Thanh P (N), Trương Tấn B2, Trần Phi L1, Huỳnh Văn H lợi dụng việc Châu Phước L6 quản lý lỏng lẻo, thiếu kiểm tra đã nhiều lần lấy trộm vật liệu xây dựng là cát, đá, xi măng, sắt của Cửa hàng V1, cụ thể như sau:
- Hành vi của Vũ Duy L
Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 20/01/2022, L điều khiển xe ô tô tải, biển số 68C-119.65 đến kho cùng với Châu Phước L6 lấy trộm 30 bao xi măng H. Số xi măng lấy trộm, L mang 20 bao xi măng đến nhà của anh Phan T5 bán cho một người chưa rõ nhân thân đang xây dựng nhà cho anh T5 với giá 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm ngàn đồng) và mang 10 bao xi măng đến bán cho một người chưa rõ nhân thân đang làm đường tại hẻm A, T, phường A với giá 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng). L mang về đưa cho L6 tổng cộng 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng). L6 chia cho L 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng), L6 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng).
Vào khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 22/01/2022, L điều khiển xe ô tô tải, biển số 68C-119.65 đến kho với L6 lấy trộm 30 bao xi măng. Số xi măng lấy trộm, L mang đến hẻm B, đường S, phường A, thành phố R bán cho chị Huỳnh Thị Hải Y được 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng) (bà Y không biết tài sản do trộm cắp mà có). Số tiền trên, L6 lấy 1.200.000 đồng, chia cho L 600.000 đồng.
Cũng trong ngày 22/01/2022 (không nhớ rõ thời gian cụ thể), L cùng Châu Phước H4 lấy trộm 04 khối đá 1x2. L mang số đá lấy trộm đến nhà của anh Phan T5 bán cho một người (chưa rõ nhân thân) với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Số tiền trên, H4 lấy 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng), chia cho L 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
- Hành vi của Huỳnh Văn H
Vào ngày 18/01/2022, Huỳnh Văn H đến bãi cát, đá của Cửa hàng V1 tại số A, đường T, phường A, thành phố R với ý định lấy trộm cát, đá. Khi đến, H lợi dụng lúc Châu Phước L6 đang giao cát tại bãi cát đối diện kho, H liền lấy trộm 04 khối đá 1x2. Sau khi lấy trộm Hừng hỏi Vũ Duy L nơi bán, được sự chỉ dẫn của L, H mang số đá lấy trộm được đến căn nhà đang xây dựng của anh Phan T5 trên đường N, phường A, thành phố R, Kiên Giang (sau đây gọi là nhà của anh Phan T5) bán được 1.000.000 đồng (một triệu đồng) nhưng không nhận tiền ngay. Số tiền trên, Vũ Duy L nhận dùm và đưa lại cho H (H không chia cho L).
Vào ngày 22/01/2022, Huỳnh Văn H cùng với Trần Phi L1 lấy trộm 20 bao xi măng H rồi mang đến căn nhà đang xây dựng tại hẻm H, đường T, phường A cho chị Huỳnh Thị Mỹ N1 được 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng). Số tiền trên, H và L1 chia đôi mỗi người được 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, cũng trong ngày 22/01/2022, Huỳnh Văn H đến kho để nhận vật liệu giao cho khách hàng. Lợi dụng Châu Phước L6 đang giao cát ở bãi cát đối diện, H lấy trộm 10 bao xi măng H và 20 cây sắt phi 10 và mang đến tiệm B3, số G, đường T, phường A cho một người chưa rõ nhân thân được 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng).
- Hành vi của Trần Phi L1
Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 21/01/2022, Trần Phi L1 điều khiển xe ô tô tải biển số 68H-4866 cùng với Nguyễn Thanh P đến kho lấy vật liệu. Khi đến, lợi dụng lúc L6 bận giao cát ở bãi cát đối diện nên L1 và P không đưa hóa đơn cho L6 mà tự lấy vật liệu. Sau khi lấy đủ vật liệu theo hóa đơn L1 và P lấy trộm 30 bao xi măng H rồi đem cất giấu tại một căn nhà thuộc khu vực E, khu đô thị P, phường A. Sau đó, L1 thuê xe ba gác chở số xi măng lấy trộm được đến số A, đường L, phường A, thành phố R bán cho anh Phan Minh K2 được 1.800.000 đồng (một triệu tám trăm nghìn đồng). Số tiền trên, L1 trả tiền xe ba gác 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) còn lại 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) P lấy 1.300.000 đồng, chia cho L1 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Vào khoảng 14 giờ, ngày 22/01/2022, Trần Phi L1 cùng với Huỳnh Văn H đến kho lấy vật liệu. Khi đến, lợi dụng lúc L6 bận giao cát ở bãi cát đối diện nên L1 và P không đưa hóa đơn cho L6 mà tự lấy vật liệu. Sau khi lấy đủ vật liệu theo hóa đơn, L1 và H lấy trộm 20 bao xi măng H rồi mang đến căn nhà đang xây dựng tại hẻm H, đường T, phường A cho chị Huỳnh Thị Mỹ N1 được 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng). Số tiền trên, H và L1 chia đôi mỗi người được 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, Trần Phi L1 còn khai nhận trong tháng 01/2022, L1 một mình trộm 05 bao xi măng H, mang đến bán cho anh Phan Minh K2 tại địa điểm nói trên được 250.000 đồng (hai trăm năm mươi nghìn đồng).
- Hành vi của Châu Phước L2
Vào khoảng 08 giờ 15 phút, ngày 18/01/2022, L2 điều khiển xe tải biển số 68C-10431 đến bãi cát, đá của Cửa hàng V1, số A, đường T, phường A, thành phố R (sau đây gọi là bãi cát, đá) lấy trộm 04 khối đá 1x2 mang đến nhà của anh Phan T5 bán cho một người chưa rõ nhân thân với số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 18/01/2022 L2 điều khiển xe tải biển số 68C-10431 đến kho lấy trộm 20 bao xi măng H. Số xi măng lấy trộm Lập mang về sửa nhà.
Ngày 19/01/2022 (không nhớ rõ thời gian cụ thể), L2 điều khiển xe ô tô tải biển số 68C-104.86 đến bãi cát, đá lấy trộm 02 khối cát, bán cho người tên P1 (chưa rõ nhân thân) tại hẻm A, đường T, phường A với số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng).
Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 20/01/2022, L2 điều khiển xe ô tô tải biển số: 68C-104.86 đến bãi cát, đá lấy trộm 04 khối đá 1x2 mang đến nhà của anh Phan T5 bán cho một người chưa rõ nhân thân với số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
Ngày 21/01/2022 (không nhớ rõ thời gian), L2 điều khiển xe ô tô tải (không nhớ rõ biển số) đến bãi cát, đá lấy trộm 04 khối đá 1x2 mang đến nhà của anh Phan T5 bán cho một người chưa rõ nhân thân với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng).
- Hành vi của Nguyễn Thanh P
Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 21/01/2022, Nguyễn Thanh P đi cùng xe ô tô tải biển số 68H-4866 với Trần Phi L1 đến kho vật liệu lấy trộm 30 bao xi măng H như trình bày ở trên.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản, ngày 24/02/2022 ông Lê Tùng K đến Công an phường A trình báo. Theo lời trình bày của bị hại Lê Tùng K, từ ngày 17/9/2021 đến ngày 23/01/2022 số tài sản bị mất trộm khoảng 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng), gồm: 3.688 bao xi măng nhãn hiệu Sư tử, 3.615 bao xi măng nhãn hiệu Vicem Hà Tiên, 1.614 bao xi măng nhãn hiệu Insee cùng với sắt phi 10, đá 1x2, cát. Tuy nhiên, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa thu thập được chứng cứ chứng minh hành vi trộm cắp tài sản của các bị can và các đối tượng có liên quan theo lời trình bày của bị hại nên không có căn cứ để xử lý.
Ngày 29/12/2022, Châu Phước L6, Châu Phước L2, Trần Phi L1, Huỳnh Văn H, Nguyễn Thanh P, Vũ Duy L bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú để phục vụ điều tra. Trong quá trình điều tra, Châu Phước L6 đã bỏ trốn, không rõ đang ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố R đã ra quyết định truy nã đối với L6; ngày 28/02/2023, ra quyết định tách vụ án hình sự số 05, tách hành vi của Châu Phước L6 thành một vụ án riêng để tiếp tục điều tra xử lý sau.
* Về thu giữ tài liệu, đồ vật:
Cơ quan điều tra đã thu giữ các tài liệu, đồ vật do ông Lê Tùng K giao nộp, gồm:
- 03 (bốn) USB chứa dữ liệu được trích xuất từ Camera an ninh tại kho vật liệu số E, đường T, phường A, thành phố R do ông Lê Tùng K giao nộp, đã đưa vào hồ sơ vụ án.
- 530 (năm trăm ba mươi) trang giấy khổ A4 thể hiện lịch trình của các xe ô tô: 68H-4866, 68C-118.92; 68C-069.73, 68C-104.31, 68C-030.29, 68C-104.86; 05 (năm) trang giấy A4 hóa đơn thanh toán giữ Cửa hàng V1 và Cửa hàng C2; 8 (tám) trang giấy khổ A4 là bảng kê tài xế C vào kho lấy vật liệu; 05 (năm) trang giấy khổ A4 là bảng kê tài xế khách hàng của Cửa hàng C2, đã đưa vào hồ sơ vụ án.
- 16 (mười sáu) trang giấy khổ A4 ghi nhận lịch trình di chuyển của xe giao vật liệu Cửa hàng V1 từ ngày 18/01/2022 đến ngày 22/01/2022; 10 (mười) trang giấy khổ A4 ghi nhận khách hàng mua vật liệu từ ngày 18/01/2022 đến ngày 22/01/2022, đã đưa vào hồ sơ vụ án.
* Tại Kết luận định giá tài sản số: 45/KL-HĐĐGTS, ngày 05/4/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố R, kết luận:
- 01 (một) bao xi măng nhãn hiệu VICEM HÀ TIÊN của Công ty cổ phần X “đa dụng” PCB40, loại 50kg/bao, chưa qua sử dụng, thời điểm định giá từ ngày 01/01/2022 đến ngày 22/01/2022 có giá trị là: 84.000 đồng/bao;
- 01 (một) khối cát vàng, chưa qua sử dụng, thời điểm định giá từ ngày 01/01/2022 đến ngày 22/01/2022 có giá trị là: 330.000 đồng/khối;
- 01 (một) cây sắt Phi 10, nhãn hiệu Miền Nam có quy cách là: chiều dài 11.7m, nặng 7,21kg, đã qua sử dụng, thời điểm định giá từ ngày 01/01/2022 đến ngày 22/01/2022 có giá trị là: 56.300 đồng/cây.
* Tại Kết luận định giá tài sản số: 69/KL-HĐĐGTS, ngày 06/6/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố R, kết luận:
- 01 (một) khối đá 1x2, chưa qua sử dụng, thời điểm định giá từ ngày 01/01/2022 đến 22/01/2022, có giá trị là: 343.000 đồng/m3;
- 01 (một) bao xi măng nhãn hiệu Sư Tử loại 50kg/bao, chưa qua sử dụng, thời điểm định giá từ ngày 01/01/2022 đến 22/01/2022, có giá trị là: 83.000 đồng/bao;
- 01 (một) bao xi măng nhãn hiệu INSEE loại 50kg/bao, chưa qua sử dụng, thời điểm định giá từ ngày 01/01/2022 đến 22/01/2022, có giá trị là: 88.000 đồng/bao.
* Tại Kết luận định giá tài sản số: 194/KL-HĐĐGTS, ngày 19/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố R, tỉnh Kiên Giang, kết luận:
- Định giá qua hồ sơ: 01 (một) bao xi măng nhãn hiệu VICEM HÀ TIÊN của Công ty Cổ phần X “đa dụng” PCB40, loại 50kg/bao, chưa qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 18, 19, 20, 21, 22/01/2022 có giá trị là: 84.000 đồng/bao;
- Định giá qua hồ sơ: 01 (một) khối cát vàng, chưa qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 18, 19, 20, 21, 22/01/2022 có giá trị là: 330.000 đồng/khối;
- Định giá qua hồ sơ: 01 (một) cây sắt Phi 10, nhãn hiệu Miền Nam có quy cách là: chiều dài 11.7m, nặng 7,21kg, đã qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 18, 19, 20, 21, 22/01/2022 có giá trị là: 56.300 đồng/cây (bút lục số: 643).
* Tại Kết luận định giá tài sản số: 195/KL-HĐĐGTS, ngày 19/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố R, tỉnh Kiên Giang, kết luận:
- Định giá qua hồ sơ: 01 (một) khối đá 1x2, chưa qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 18, 19, 20, 21, 22/01/2022 có giá trị là: 343.000 đồng/m3;
- Định giá qua hồ sơ: 01 (một) bao xi măng nhãn hiệu Sư Tử loại 50kg/bao, chưa qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 18, 19, 20, 21, 22/01/2022 có giá trị là: 83.000 đồng/bao;
- Định giá qua hồ sơ: 01 (một) bao xi măng nhãn hiệu INSEE loại 50kg/bao, chưa qua sử dụng, thời điểm định giá ngày 18, 19, 20, 21, 22/01/2022 có giá trị là: 88.000 đồng/bao.
* Về phần dân sự:
Trong quá trình điều tra bị hại Lê Tùng K yêu cầu các bị cáo và những người có liên quan bồi thường số tiền 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng).
Các bị cáo không đồng ý bồi thường theo yêu cầu bị hại, chỉ đồng ý bồi thường đối với các tài sản mà các bị cáo thừa nhận lấy trộm. Bị cáo L, H, L2, P có nộp một phần tiền tại Cơ quan điều tra để khắc phục hậu quả, bị hại chưa nhận khoản tiền này.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 72/2024/HS-ST, ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
- Tuyên bố các bị cáo Vũ Duy L, Nguyễn Thanh P, Huỳnh Văn H, Trần Phi L1, Châu Phước L2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Vũ Duy L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Châu Phước L2 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dung khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Phi L1 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, trách nhiệm dân sự, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 17/4/2024 bị cáo Huỳnh Văn H, Nguyễn Thanh P và Châu Phước L2 có đơn kháng cáo với nội dung xin được xử hình phạt cải tạo không giam giữ.
Ngày 25/4/2024 bị cáo Vũ Duy L có đơn kháng cáo với nội dung xin được xử hình phạt cải tạo không giam giữ.
Ngày 26/4/2024 bị cáo Trần Phi L1 có đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo Vũ Duy L, Nguyễn Thanh P, Huỳnh Văn H, Trần Phi L1 giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Bị cáo Châu Phước L2 vắng mặt không lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang có ý kiến đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, xử phạt bị cáo mức án như sau: Bị cáo Vũ Duy L 01 năm tù; mỗi bị cáo Trần Phi L1, Huỳnh Văn H và Châu Phước L2 06 tháng tù; bị cáo Nguyễn Thanh P 03 tháng tù.
- Người bào chữa cho các bị cáo có ý kiến đề nghị áp dụng cho bị cáo đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ được hưởng và xem xét đến hoàn cảnh gia đình các bị cáo rất khó khăn, từ đó chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, xử mức án; loại hình phạt nhẹ nhất có thể.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:
Xét đơn kháng cáo của các bị cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị cáo Châu Phước L2 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa phúc thẩm nhưng vắng mặt không lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị cáo L2 theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 251 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về quyết định của bản án sơ thẩm:
Lợi dụng sự sơ hở của ông Lê Tùng K chủ Cửa hàng vật liệu xây dựng Đ, các bị cáo Vũ Duy L, Nguyễn Thanh P, Huỳnh Văn H, Trần Phi L1, Châu Phước L2 và một số đối tượng khác đã nhiều lần lén lút chiếm đoạt vật liệu xây dựng (cát, đá, xi măng, sắt) của ông K đem bán cho người khác lấy tiền chia nhau tiêu sài. Trong đó L tham gia thực hiện 03 lần, theo định giá tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 6.412.000đ (có 02 lần trên 2.000.000₫); Lập tham gia thực hiện 05 lần, theo định giá tổng giá trị tài sản chiếm đoạt 6.456.000đ (có 01 lần trên 2.000.000₫); Hừng tham gia thực hiện 03 lần, theo định giá tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 5.018.000đ (có 01 lần trên 2.000.000₫); L1 tham gia thực hiện 03 lần, theo định giá tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 4.620.000đ (có 01 lần trên 2.000.000₫); P tham gia thực hiện 01 lần, theo kết luận định giá giá trị tài sản chiếm đoạt là 2.520.000đ. Do đó cấp sơ thẩm truy tố, xét xử và kết án các bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định.
[4] Xét kháng cáo của các bị cáo:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người khác, gây thiệt hại đáng kể về vật chất đối với họ mà còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây hoang man, bức xúc đối với mọi người. Do đó cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo hình phạt tù có thời hạn là phù hợp, đảm bảo phục vụ công tác đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này ở địa phương. Việc các bị cáo kháng cáo yêu cầu được xử hình phạt cải tạo không giam giữ; cho hưởng án treo là không có cơ sở để chấp nhận.
Tuy nhiên, thấy rằng mức hình phạt tù cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo như trên là quá nghiêm khắc, không tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, chưa xem xét toàn diện các tình tiết giảm nhẹ và đặc điểm nhân thân của các bị cáo. Bởi lẽ, tài sản có căn cứ xác định từng bị cáo chiếm đoạt của bị hại trị giá không lớn, nhiều nhất chỉ 6.456.000đ, ít nhất chỉ 2.520.000đ; các bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, nhất thời phạm tội, trừ bị cáo L phạm tội 02 lần thì các bị cáo còn lại đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện có sự ăn năn hối cải; tính đến giai đoạn xét xử phúc thẩm thì tất cả các bị cáo đã tự nguyện giao nộp để bồi thường đầy đủ cho bị hại giá trị tài sản chiếm đoạt.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Việm kiểm sát và người bào chữa cho các bị cáo, chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm cho từng bị cáo một mức hình phạt tù.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, do yêu cầu kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận một phần nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Vũ Duy L, Nguyễn Thanh P, Huỳnh Văn H, Trần Phi L1, Châu Phước L2; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 72/2024/HS-ST, ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Vũ Duy L 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Châu Phước L2 06 (S1) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Trần Phi L1 06 (S1) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 03 (Ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
- Về án phí, căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số: 72/2024/HS-ST, ngày 16/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Văn Lịnh |
Bản án số 190/2024/HS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 190/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Duy L cùng đồng phạm lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại
