TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 190/2024/HNGĐ-ST Ngày 26-7-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Diệp
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Cao Thị Hạ
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Sông Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 183/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Thông báo về thời gian mở lại phiên tòa số 336/TB-TA ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố số E, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số A, đường A, khu công nghiệp Đ, thành phố Đ, Đài Loan. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Đỗ Văn K; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố số E, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Công ty H, số A, đường S, khu S, thành phố Đ, Đài Loan. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 4 năm 2023 và bản tự khai gửi Tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Bà và ông Đỗ Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K (nay là phường H, quận D), thành phố Hải Phòng vào ngày 30 tháng 12 năm 2002. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc; đến năm 2014, khi bà sang Đài Loan làm việc thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông K không chăm lo làm ăn, nợ nần triền miên và không chia sẻ, đóng góp kinh tế để nuôi dưỡng con chung cũng như vun đắp cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn của ông bà đã được hai bên gia đình động viên, hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện tại, tuy bà và ông K đều đang làm việc tại Đài Loan nhưng vợ chồng đã ly thân từ năm 2021, không còn quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, gia đình không có khả năng đoàn tụ, bà đề nghị Toà án giải quyết cho bà và ông Đỗ Văn K được ly hôn.
Về con chung: Giưa bà và ông K có hai con chung là Đỗ Quốc T, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2003 và Đỗ Tiến Đ1, sinh ngày 23 tháng 8 năm 2009. Hiện tại cháu T đã thành niên, có khả năng lao động và có công việc ổn định nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu Đ1 hiện đang sống cùng với bà nội; cháu đã trên 07 tuổi và có quyền thể hiện quan điểm về việc muốn chung sống cùng với ai. Tuy nhiên, nguyện vọng của bà là đề nghị Tòa án giao cháu Đ1 cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, bà không yêu cầu ông K phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ngay sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã có văn bản gửi Bộ Tư pháp đề nghị thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án gồm thông báo thụ lý vụ án, thông báo yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ cho ông Đỗ Văn K. Tuy nhiên, đã hết thời hạn theo quy định của pháp luật và sau hai lần hoãn phiên toà, Tòa án vẫn không nhận được kết quả thực hiện ủy thác tư pháp cũng như văn bản, ý kiến trình bày của ông Đỗ Văn K đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 19 tháng 01 năm 2024, con chung chưa thành niên (trên 07 tuổi) của bà Nguyễn Thị Đ và ông Đỗ Văn K là cháu Đỗ Tiến Đ1 trình bày:
Từ khi bố mẹ đi Đài Loan đến nay, cháu sống cùng với bà nội. Trường hợp bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống cùng với bố, khi bố đi làm ở Đài Loan không có nhà, cháu sẽ tiếp tục sống cùng với bà nội vì bà là người chăm sóc cháu từ nhỏ đến nay.
Theo Biên bản xác minh ngày 19 tháng 01 năm 2024 tại Tổ dân phố nơi bà Nguyễn Thị Đ và ông Đỗ Văn K đăng ký thường trú:
Ông Đỗ Văn K là người địa phương, có vợ là Bà Nguyễn Thị Đ. Quá trình chung sống, ông bà không đánh, cãi chửi nhau, làm ảnh hưởng đến hàng xóm, láng giềng, còn trong nội bộ gia đình ông bà có mâu thuẫn gì không thì địa phương không nắm được. Hiện tại, ông bà không còn sinh sống tại địa phương và đang đi lao động tại Đài Loan. Đối với việc bà Đ có đơn xin ly hôn ông K, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Đỗ Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K (nay là phường H, quận D, thành phố Hải Phòng) là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, bà Đ và ông K sang Đài Loan làm việc và phát sinh mâu thuẫn. Tại Đài Loan, ông bà mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm đến nhau, gia đình không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ về việc xin ly hôn với ông Đỗ Văn K.
Về con chung: Bà Đ và ông K có hai con chung là Đỗ Quốc T, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2003 và Đỗ Tiến Đ1, sinh ngày 23 tháng 8 năm 2009. Đối với cháu T đã thành niên và có khả năng lao động nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cháu Đ1 hiện đang sống cùng bà nội và có nguyện vọng được sống cùng với bố. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Đ1 cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, không ai có yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí và chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án dân sự về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm thụ lý vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Đ và bị đơn là ông Đỗ Văn K đang lao động tại Đài Loan nhưng ông bà đều đăng ký thường trú tại tổ dân phố số E, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng theo quy định tại các điều 37, 39 và 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Đỗ Văn K theo đường ngoại giao thông qua Bộ Tư pháp. Trong Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án đã ấn định ngày mở phiên họp hòa giải, ngày mở lại phiên họp hòa giải, ngày mở phiên tòa và ngày mở lại phiên tòa (nếu có). Tuy nhiên, đã hết thời hạn quy định tại khoản 4 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự mà Tòa án không nhận được thông báo của cơ quan có thẩm quyền về kết quả thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng cho ông Đỗ Văn K. Tại phiên toà, bà Nguyễn Thị Đ vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt tất cả các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238 và điểm c khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Đỗ Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện K (nay là phường H, quận D), thành phố Hải Phòng vào ngày 30 tháng 12 năm 2002 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc; sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống; hiện tại tuy bà Đ và ông K đều đang sống và làm việc tại Đài Loan nhưng mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm đến nhau, gia đình không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị Đ xin được ly hôn với ông Đỗ Văn K là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[4] Về con chung: Giữa bà Đ và ông K có hai con chung là Đỗ Quốc T, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2003 và Đỗ Tiến Đ1, sinh ngày 23 tháng 8 năm 2009. Cháu T hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xét. Đối với cháu Đỗ Tiến Đ1, bà Đ và ông K hiện đều đang lao động tại Đài Loan, không ai có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Tuy nhiên, từ nhỏ đến nay, cháu vẫn sống cùng bà nội, được bà nội chăm sóc, nuôi dưỡng chu đáo, cháu có nguyện vọng được sống cùng với bố trong trường hợp bố mẹ ly hôn. Vì vậy, để ổn định cuộc sống và nơi học tập của cháu, Hội đồng xét xử giao cháu Đ1 cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét. Các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[6] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét. Các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[7] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 37, 39, 147, 153, 228, 235, 238, 469, 474, 476, 477 và 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 19, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Điểm a khoản 5 Điều 27 và Điều 44 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
X:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Đ ly hôn ông Đỗ Văn K.
- Về con chung: Đối với con chung Đỗ Quốc T, sinh ngày 15 tháng 8 năm 2003 hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên không xét.
Giao con chung Đỗ Tiến Đ1, sinh ngày 23 tháng 8 năm 2009 cho ông Đỗ Văn K trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi) hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét. Các đương sự có quyền khởi kiện bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị Đ đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) - tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0000006 ngày 12 tháng 6 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Bà Nguyễn Thị Đ đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài. Bà Nguyễn Thị Đ đã nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) - tiền tạm ứng lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000030 ngày 03 tháng 7 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Bà Nguyễn Thị Đ đã nộp đủ lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Bích Diệp |
Bản án số 190/2024/HNGĐ-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 190/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Đ - Đỗ Văn K
