Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG HẢI

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 190/2024/HNGĐ-ST

Ngày 11 - 12 - 2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tăng Giàu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Hoàng

Ông Nguyễn Văn Tịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 451/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm 1988; cư trú tại: Ấp V, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lê Văn K1, sinh năm 1988; cư trú tại: Ấp V, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/8/2024 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Nguyễn Thị K trình bày:

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị K và anh Lê Văn K1 sống chung vào khoảng năm 2010, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương. Sau đó, vợ chồng anh chị có đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống, thời gian đầu chung sống với nhau thì vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau này hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng ngày càng căng thẳng và không còn hạnh phúc. Hiện tại anh chị không còn sống chung. Nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng cũng không thể hàn gắn lại được chị K cũng không còn tình cảm gì với anh K1 nên chị yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn K2.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị K và anh Lê Văn K1 có 02 người con chung tên Lê Phú T, sinh ngày 19/4/2011 và Lê Hòa T1, sinh ngày 19/7/2017, hiện tại đang sống với chị K, khi ly hôn chị K yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 người con chung và không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ: Chị Nguyễn Thị K và anh Lê Văn K1 xác định không có tài sản chung, anh chị không có nợ ai nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Đối với bị đơn anh Lê Văn K1: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có lời khai.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật, việc chấp hành pháp luật của các đương sự nguyên đơn đúng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70 và 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị K đối với anh Lê Văn K1; về con chung: Giao 02 người con chung tên Lê Phú T, sinh ngày 19/4/2011 và Lê Hòa T1, sinh ngày 19/7/2017, hiện tại đang sống với chị K cho chị K tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về tài sản chung và nợ: Không có nên không xem xét. Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm chị K phải chịu 300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị K yêu cầu ly hôn và nuôi con. Bị đơn anh Lê Văn K1, cư trú tại huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, nên đây là vụ án dân sự về tranh chấp ly hôn, nuôi con và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Chị Nguyễn Thị K có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và được Tòa án chấp nhận; anh Lê Văn K1 đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai, căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, các điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị K và anh K1.

[4] Về nội dung: Chị Nguyễn Thị K và anh Lê Văn K1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Nên hôn nhân giữa chị K và anh K1 là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.

[5] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị K yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn K1. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị K xác định quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi do bất đồng quan điểm, không hàn gắn được. Mục đích hôn nhân là để tạo dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải yêu thương, quý trọng và chăm sóc lẫn nhau, nhưng trong thời gian chung sống chị K và anh K1 phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cải nhau, cuộc sống gia đình luôn căng thẳng không hàn gắn được, hiện tại chị K và anh K1 không còn sống chung, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị K đối với anh Lê Văn K1.

[6] Về con chung: Chị Nguyễn Thị K và anh Lê Văn K1 có 02 người con chung tên Lê Phú T, sinh ngày 19/4/2011 và Lê Hòa T1, sinh ngày 19/7/2017, hiện tại đang sống với chị K, khi ly hôn chị K yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 người con chung và không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, từ lúc vợ chồng anh chị không còn sống chung đến nay thì cháu Lê Phú T và Lê Hòa T1 do chị K trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con nên giao cháu Lê Phú T và Lê Hòa T1 cho chị K tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh K1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không đặt ra nên không xem xét.

[7] Về tài sản chung và nợ: Chị Nguyễn Thị K xác định, anh chị không có tài sản chung và cũng không nợ ai, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[8] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Nguyễn Thị K phải chịu theo quy định của pháp luật.

[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về các vấn đề có liên quan đến vụ án là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; các điểm a, b khoản 1 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 các điểm a, b khoản 1 Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị K đối với anh Lê Văn K1.
  2. Về con chung: Giao người con chung tên Lê Phú T, sinh ngày 19/4/2011 và Lê Hòa T1, sinh ngày 19/7/2017 cho chị Nguyễn Thị K tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, hiện tại cháu Lê Phú T và Lê Hòa T1 đang sống với chị K nên giữ nguyên. Anh Lê Văn K1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung và nợ: Không có nên không xem xét, giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị K phải chịu 300.000 đồng. Chị K đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010617 ngày 02 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí toàn bộ số tiền nêu trên.
  5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị K và anh Lê Văn K1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND huyện Đông Hải;
  • - CCTHADS huyện Đông Hải;
  • - UBND xã An Trạch;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Tăng Giàu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2024/HNGĐ-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 190/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HẢI, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị K yêu cầu ly hôn với anh K1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger