TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 190/2024/DS-ST
Ngày: 22 - 7 - 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông La Văn Việt
Bà Trần Thị Đổi
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lê Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 938/2023/TLST-DS ngày 17 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 212/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần X2 (E).
Địa chỉ trụ sở: Lầu H V, số G, Lê Thánh T, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đỗ Hà P – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền của bà P: Ông Đỗ Lãm C – Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh S. Theo Giấy ủy quyền số 356/2023/UQ-CTHĐQT ngày 03/10/2023.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Ông Nguyễn Anh T1 hoặc bà Nguyễn Thị Thu N hoặc ông Lê Phú C1 (giấy ủy quyền số 121/2023/EIB-SG.PGDSGP). Ông Lê Phú C1 có mặt.
Bị đơn:
- Ông Nguyễn Hữu C2, sinh năm 1991.
1
Nơi đăng ký thường trú: Xóm N, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Địa chỉ hiện nay: Số A, ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; ông Nguyễn Hữu C2 vắng mặt.
- Bà Trịnh Thị X, sinh năm 1995.
Nơi đăng ký thường trú: Xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Địa chỉ hiện nay: Số A, ấp E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; Bà Trịnh Thị X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần X2 do ông Lê Phú C1 đại diện theo ủy quyền trình bày như sau: Ngày 20/07/2022, vợ chồng ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X đã ký với Ngân hàng TMCP X2 Chi nhánh S – Phòng giao dịch Nguyễn Công T2 (nay là phòng G) hợp đồng tín dụng số 2211-LAV-220062726 để vay số tiền 1.400.000.000đồng (Một tỷ bốn trăm triệu đồng).
Ngày 20/07/2022, Ngân hàng TMCP X2 Chi nhánh S – Phòng giao dịch Nguyễn Công T3 (nay là phòng G) đã giải ngân và ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X đã nhận nợ theo Khê ước nhận nợ số 2211-LDS-220000101.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng trên, ông Nguyễn Hữu C3 và bà Trịnh Thị X:
- Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 25/07/2022, Ngân hàng ký Hợp đồng hạn mức tín dụng phát hành và thanh chi trả được một phần nợ gốc: 38.888.880đồng, nợ lãi và phí tạm tính đến ngày 02/10/2023 là: 40.995.302đồng ngày 25/07/2022 toán thẻ tín dụng với ông Nguyễn Hữu C2 để phát hành 01 thẻ tín dụng Visa Platium số thẻ 4027.3737.3918.0943, hạn mức 80.000.000 đồng, theo hình thức miễn bảo đảm tín dụng (tín chấp).
Quá trình sử dụng thẻ tín dụng trên, ông Nguyễn Hữu C3 dùng thẻ để tiêu dùng, tạm tính đến ngày 02/10/2023 (theo sao kê tháng 08/2023), số tiền ông Nguyễn Hữu C2 phải thanh toán thẻ tín dụng cho Ngân hàng là 67.664.494 đồng.
Kể từ khi quá hạn, Ngân hàng TMCP X2 đã nhiều lần yêu cầu ông Nguyễn Hữu C2 thanh toán nợ, tuy nhiên đến nay vẫn chưa thực hiện. Tạm tính đến ngày 02/10/2023 ông Nguyễn Hữu C2 còn nợ E số tiền là 1.469.770.916đồng (trong đó: nợ gốc là 1.361.111.120 đồng, lãi trong hạn, lãi quá hạn và phí trễ hạn là 40.995.302 đồng, nợ thẻ tín dụng 67.664.494 đồng).
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn ông Nguyến Hữu C4 bà bà Trịnh Thị X đã thế chấp tài sản như sau:
- Bất động sản tại thửa đất 443, tờ bản đồ số 60, đất tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An thuộc sở hữu của Bà Trịnh Thị X – ông Nguyễn Hữu C2 theo
2
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyển sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 539486, sổ vào số cấp GCN: CS07285 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 27/01/2022, cập nhật biến động ngày 27/04/2022, 08/06/2022. Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 40/EIB.SG-PGDNCT/TC22 ngày 20/07/2022 được Văn phòng C6, tỉnh Long An chứng nhận số công chíng 5758, qyên số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD; Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Long An ngày 20/07/2022, số đăng ký 27886).
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Hữu C2 và bà bà Trịnh Thị X thanh toán cho E toàn bộ nợ gốc, lãi phát sinh, lãi quá hạn, phí và nợ thẻ tín dụng tạm tính đến ngày 22/7/2024 là 1.650.324.105đồng, cụ thể như sau:
+ Đối với Hợp đồng tín dụng số 2211-LAV-220062726 ngày 20/07/2022 số tiền 1.545.607.666đồng đồng (trong đó: nợ gốc là 1.360.611.023đồng, tiền lãi 163.845.783đồng, phí trễ hạn, lãi chậm thanh toán: 7.544.750 đồng, phí trả trước hạn 13.606.110đồng). Trả ngay khi bản án có hiệu lực. Tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 23/7/2024 cho đến khi ông Nguyễn Hữu C2, bà X trả xong nợ cho E theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký.
+ Đối với khoán thẻ tín dụng Visa Platium số thẻ 4027.3737.3918.0943, phát hành theo Giấy đẻ nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 25/07/2022: Toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh tạm tính đến ngày 22/7/2024 tổng cộng là: 104.716.439đồng, trong đó nợ gốc là 63.869.668đồng, tiền lãi ngoại là 40.746.771đồng, phí phát sinh la 100.000đồng. Tiền lãi tiếp tục tính từ ngày 23/7/2024 cho đến khi bị đơn trả xong nợ cho E theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng đã ký kết.
2. Trường hợp ông Nguyễn Hữu C2 không trả nợ hoặc trả nợ không đủ thì E có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyên phát mại tài sản thế chấp là Bất động sản tại thửa đất 443 tờ bản đồ số 60, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An thuộc sở hữu của Bà Trịnh Thị X theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liên với đất số DD 539486, số vào số cấp GCN: CS07285 do Sở TN và MT tỉnh L cấp ngày 27/01/2022, cập nhật biến động ngày 27/04/2022, 08/06/2022.
3. Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm phát mại không đủ thanh toán nợ thì ông. Nguyễn Hữu C2, bà Trịnh Thị X tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho E cho đến khi trả nợ xong.
Bị đơn ông Nguyễn Hữu C2 trình bày trong bản tự khai cũng như trong biên bản hòa giải ngày 04/6/2024 được tóm tắt như sau: Ông thừa nhận ông và vợ là bà Trịnh Thị X có ký hợp đồng tín dụng vay của Ngân hàng TMCP X2 và mở thẻ tín dụng như phía ngân hàng trình bày. Hiện nay ngân hàng khởi kiện số tiền là 1.622.182.065đồng, ông và bà X đồng ý trả số tiền trên. Tuy nhiên, do kinh tế gia đình khó khăn nên xin Ngân hàng gia hạn thêm 6 tháng để xoay tiền trả nợ, tức là khoảng ngày 20/9/2024 bị đơn sẽ trả toàn bộ số nợ gốc và lãi. Đối
3
với yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của Ngân hàng thì ông không đồng ý. Trên đất tranh chấp hiện trạng là loại đất lúa, hiện tại ông đang để đất trống.
Bị đơn bà Trịnh Thị X trình bày tại bản tự khai như sau: Bà thừa nhận có ký hợp đồng tín dụng vay của Ngân hàng TMCP X2 và thống nhất còn nợ số tiền là 1.622.182.065đồng. Nay trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà đồng ý trả nợ. Tuy nhiên, do kinh tế gia đình khó khăn nên xin Ngân hàng gia hạn thêm 6 tháng để xoay tiền trả nợ, tức là khoảng ngày 20/9/2024 bà sẽ trả toàn bộ số nợ gốc và lãi. Đối với yêu cầu phát mãi tài sản của Ngân hàng thì bà không đồng ý. Trên đất tranh chấp hiện trạng là loại đất lúa, hiện trạng đất trống. Ngoài ra bà có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Tại phiên tòa diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng đã cơ cấu nợ cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn không thực hiện việc trả nợ cho phía ngân hàng, Nay ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông C5 và bà X phải liên đới thanh toán số tiền còn nợ tổng cộng tình đến ngày 22/7/2024 là 1.650.324.105đồng và thực hiện phát mãi tài sản đảm bảo cho hai hợp đồng tín dụng trong trường hợp bị đơn không thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa phát biểu quan điểm như sau:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ hợp đồng tín dụng số 2211-LAV-220062726 bị đơn đã vay của ngân hàng số tiền 1.400.000.000đồng và Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 25/07/2022, Ngân hàng ký Hợp đồng hạn mức tín dụng với bị đơn. Tuy nhiên quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán tính đến ngày 22/7/2024 còn nợ số tiền là 1.650.324.105đồng, quá trình giải quyết vụ án ông C2 bà X1 có ý kiến đồng ý trả nợ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với yêu cầu trả vào ngày 20/9/2024 của bị đơn không được nguyên đơn đồng ý nên không có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1]. Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP X2 khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Nguyễn Hữu C2, bà Trịnh Thị X nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn ông Nguyễn Hữu C2, bà Trịnh Thị X hiện đang thường trú tại huyện Đ, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý theo thủ tục sơ thẩm là thuộc thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
4
[1.2] Bị đơn ông Nguyễn Hữu C2 vắng mặt lần thứ hai không có lý do, bà Trịnh Thị X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 14/3/2024. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà Trịnh Thị X.
[1.3] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện các thủ tục mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải. Nguyên đơn thống nhất các chứng cứ của vụ án đã được giao nộp đầy đủ và được công khai đúng thủ tục. Tòa án tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án: Quá trình giải quyết vụ án Ngân hàng X2 khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X phải liên đới thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 22/7/2024 là 1.650.324.105đồng, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Căn cứ hợp đồng tín dụng số 2211-LAV-220062726 ngày 20/07/2022 thể hiện ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X vay số tiền 1.400.000,000đồng mục đích vay để thanh toán tiền chuyển nhượng bất động sản và trong ngày 20/07/2022, Ngân hàng TMCP X2 đã giải ngân và ông Nguyễn Hữu C2 - bà Trịnh Thị X đã nhận nợ theo Khê ước nhận nợ số 2211-LDS-220000101. Ngoài ra ngày 25/07/2022, Ngân hàng TMCP X2 ký Hợp đồng hạn mức tín dụng phát hành và thanh chi trả được một phần nợ gốc: 38.888.880 đồng, nợ lãi và phí tạm tính đến ngày 02/10/2023 là: 40.995.302 đồng ngày 25/07/2022 toán thẻ tín dụng với ông Nguyễn Hữu C2 để phát hành 01 thẻ tín dụng Visa Platium số thẻ 4027.3737.39 18.0943, hạn mức 80.000.000 đồng, theo hình thức miễn bảo đảm tín dụng (tín chấp). Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X liên đới trả số tiền nợ tính đến ngày tính đến ngày 22/7/2024 là 1.650.324.105đồng, cụ thể như sau: Đối với Hợp đồng tín dụng số 2211-LAV-220062726 ngày 20/07/2022 số tiền 1.545.607.666đồng đồng (trong đó: nợ gốc là 1.360.611.023đồng, tiền lãi 163.845.783đồng, phí trễ hạn, lãi chậm thanh toán: 7.544.750đồng, phí trả trước hạn 13.606.110đồng). Đối với khoán thẻ tín dụng tổng cộng là: 104.716.439đồng, (trong đó nợ gốc là 63.869.668đồng, tiền lãi ngoại là 40.746.771đồng, phí phát sinh là 100.000đồng). Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông C2, bà X thống nhất thừa nhận có ký hợp đồng tín dụng, mở thẻ và còn nợ tiền tổng cộng 1.622.182.065đồng (tính đến ngày 04/6/2024) như lời trình bày của phía ngân hàng và đồng ý liên đới trả số tiền trên nên đây được xem là các tình tiết sự thật của vụ án, không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92, 93 Bộ luật Tố tụng dân sự và sự thỏa thuận, quyền tự định đoạt của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Vì vậy, căn cứ khoản Điều 463, khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng, cần buộc bị đơn ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X phải có trách nhiệm liên đới thanh toán
5
số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 22/7/2024 tổng cộng 1.650.324.105đồng cho Ngân hàng X2 là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về yêu cầu gia hạn thời gian trả nợ của bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X có ý kiến do hoàn cảnh gia đình khó khăn nên ông C2 và bà X xin được trả vào ngày 20/9/2024 nhưng ý kiến này không được đại diện hợp pháp của nguyên đơn chấp nhận với lý do ông C2 và bà X đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận và ông C2 bà X đã được phía ngân hàng tái cơ cấu nợ nhưng vẫn vi phạm. Vì vậy, xét yêu cầu trả dần của ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận và cần buộc ông C2 và bà X phải trả một lần số tiền tổng cộng là 1.650.324.105đồng cho Ngân hàng X2 ngay sau khi bản án có hiệu lực.
[2.3] Ngoài ra kể từ ngày 23/7/2024, ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn trên nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi ông C2 và bà X thanh toán xong khoản nợ.
[2.4] Về tài sản bảo đảm cho khoản vay là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 443, tờ bản đồ số 60, đất tọa lạc tại xã T, huyện Đ, tỉnh Long An thuộc sở hữu của bà Trịnh Thị X – ông Nguyễn Hữu C2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyển sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 539486, sổ vào số cấp GCN: CS07285 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 27/01/2022, cập nhật biến động ngày 27/04/2022, 08/06/2022. Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 40/EIB.SG-PGDNCT/TC22 ngày 20/07/2022 dược Văn phòng công chứng Võ Văn N1, tỉnh Long An chứng nhận số công chíng 5758, qyên số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD; Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Long An ngày 20/07/2022, số đăng ký 27886). Theo biên bản thẩm định tại chỗ ngày 28/3/2024 thể hiện phần đất thửa đất 443 hiện trạng là đất trống không có vật kiến trúc gì khác.
Việc thế chấp tài sản đảm bảo và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật nên trường hợp ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X không thanh toán cho phía ngân hàng thì ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bị đơn ông C2, bà X phải chịu tổng cộng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 1.600.000đồng. Nguyên đơn Ngân hàng X2 đã nộp tạm ứng và chi phí xong vì vậy cần buộc ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X phải nộp số tiền 1.600.000đồng để trả lại cho Ngân hàng X2.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
6
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên cần buộc bị đơn ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền có nghĩa vụ hoàn trả là 1.650.324.105đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 288, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng X2 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X.
1. Buộc ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X có trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền còn nợ cho Ngân hàng X2 đến ngày 22/7/2024 tổng cộng là 1.650.324.105đồng (Một tỷ sáu trăm năm mươi triệu ba trăm hai mươi bốn nghìn một trăm lẻ năm đồng). Trong đó đối với Hợp đồng tín dụng số 2211-LAV-220062726 ngày 20/07/2022 số tiền tổng cộng là 1.545.607.666đồng (trong đó: số tiền nợ gốc là 1.360.611.023đồng, tiền lãi 163.845.783đồng, phí trễ hạn, lãi chậm thanh toán: 7.544.750đồng, phí trả trước hạn 13.606.110đồng). Đối với khoản thẻ tín dụng Visa Platium số thẻ 4027.3737.3918.0943, phát hành theo Giấy đẻ nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 25/07/2022 tổng cộng số tiền là: 104.716.439đồng, trong đó nợ gốc là 63.869.668đồng, tiền lãi ngoại là 40.746.771đồng, phí phát sinh là 100.000đồng.
Thời hạn và phương thức thanh toán: Trả một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Kể từ ngày 23/7/2024, bị đơn ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X tiếp tục phải chịu tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết số 2211-LAV-220062726 Ngày 20/07/2022 và Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ngày 25/07/2022 cho đến khi ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X thanh toán hết số nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp
7
với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay phù hợp theo quy định của pháp luật.
3. Trường hợp đến hết thời hạn thanh toán mà ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ cho Ngân hàng X2 thì Ngân hàng X2 được quyền làm đơn yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự, tổ chức có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là bất động sản tại thửa đất 443 tờ bản đồ số 60, xã T, huyện Đ, tỉnh Long An do bà Trịnh Thị X đứng tên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 539486, số vào số cấp GCN: CS07285 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 27/01/2022, cập nhật biến động ngày 27/04/2022, 08/06/2022 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 40/EIB.SG-PGDNCT/TC22 ngày 20/07/2022 được Văn phòng C6, tỉnh Long An chứng nhận số công chứng 5758, quyển số 12/2022TP/CC-SCC/HĐGD; Đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, tỉnh Long An ngày 20/07/2022, số đăng ký 27886).
Trong trường hợp sau khi phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 40/EIB.SG-PGDNCT/TC22 ngày 20/07/2022 nhưng không đủ tiền trả nợ theo các hợp đồng tín dụng nói trên thì ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X phải trả thêm cho đủ số nợ theo các hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký kết.
4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc bị đơn ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X phải nộp số tiền 1.600.000đồng (Một triệu sáu trăm nghìn đồng) là chi phí xem xét thẩm định tại chỗ để trả lại cho Ngân hàng X2.
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X phải chịu 61.509.000đồng (sau khi làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước. Ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X chưa nộp.
Ngân hàng X2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An hoàn lại cho Ngân hàng X2 số tiền 28.046.564đồng theo biên lai thu số 0005288 ngày 13/11/2023.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng X2 có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn ông Nguyễn Hữu C2 và bà Trịnh Thị X vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân
8
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thành |
9
Bản án số 190/2024/DS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 190/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng thương mại cổ phần X2 "tranh chấp hợp đồng tín dụng" Nguyễn Hữu C2
