Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 190/2023/HS-ST

Ngày 18 - 8 - 2023.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Liên Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Chính.
  2. Ông Nguyễn Trung Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 173/2023/HSST ngày 19 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 200/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Phương M; sinh năm 1974 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: Hiệp Nhất, Phường 4, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: ấp Tân Thới 1, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ch và bà Nguyễn Thị H; nhân thân: bị Công an xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác” theo Quyết định số: 154/QĐ-XPHC ngày 26/9/2017; ngày 11/4/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù giam về tội “Cướp tài sản” theo bản án số 53/2018/HSST, đến ngày 28/2/2021 chấp hành xong; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn từ ngày 07/4/2023. (có mặt)

- Bị hại: Bà Lại Thị U, sinh năm 1944. Địa chỉ: 1 ấp Trung Đông 2, xã Th, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 9 giờ 25 phút ngày 6/4/2023, Nguyễn Thị Phương M chạy xe biển số: 59P2- 458.76 trên đường Nguyễn Thị Ngâu thuộc xã Thới Tam Thôn gặp bà Lại Thị U (sinh năm 1944) đang dắt xe đạp trên đường, nên Nguyễn Thị Phương M nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của bà U. Nguyễn Thị Phương M giả vờ đến nói với bà U là gia đình Mai mới trúng số, nên làm từ thiện và kêu bà U gửi xe đạp lên xe máy chở về nhà Mai nhận 01 bao gạo và 10.000.000 đồng. Sau khi nghe, bà U tin nên lên xe Mai chở đến địa chỉ 39, Tổ 84, ấp Trung Đông 2, xã Th, huyện M, Mai kêu bà U tháo hết nhẫn vàng ra đưa Mai giữ, với lý do sợ mẹ chồng Mai thấy bà U đeo vàng thì không phát gạo và cho tiền từ thiện. Bà U tưởng thật tháo 03 chiếc nhẫn vàng và tiền mặt 3.000.000 đồng đưa cho Mai bỏ vào cốp xe. Lúc này M nói bà U đứng đợi, để Mai chạy xe về nhà lấy tiền và gạo, nhưng thực tế Mai điều khiển xe tẩu thoát. Bà U đợi không thấy M quay lại và biết bị lừa nên đến công an xã Th, huyện M trình báo vụ việc vào khoảng 13 giờ 00 cùng ngày. Qua truy xét, ngày 07/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đã bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị Phương M thu giữ 03 chiếc nhẫn vàng và tiền mặt 3.000.000 đồng.

Theo Kết luận định giá số 68/KL-HĐĐGTS ngày 25/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện Hóc Môn xác định: 01 nhẫn cẩm thạch bằng vàng 18K trọng lượng 04 phân có giá 1.609.160 đồng; 01 nhẫn bằng vàng 24K trọng lượng 01 chỉ có giá 5.530.000 đồng; 01 nhẫn bằng vàng 24K trọng lượng 09 phân có giá 4.977.000 đồng. Tổng số tiền: 12.116.160 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Nguyễn Thị Phương M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Bản cáo trạng số: 182/Ctr-VKS ngày 18 tháng 7 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Phương M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố tại phiên tòa xác định: Căn cứ vào lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa của bị cáo cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị Phương M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương M từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Phương M khai nhận:

Khoảng 9 giờ 25 phút ngày 6/4/2023, bị cáo Nguyễn Thị Phương M điều khiển xe máy trên đường Nguyễn Thị Ngâu thuộc xã Th, huyện M gặp Cụ bà đang dắt xe đạp, có đeo nhẫn vàng trên tay nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Từ đó, bị cáo Nguyễn Thị Phương M đến gặp Cụ bà nói rằng gia đình bị cáo mới trúng số nên làm từ thiện, kêu Cụ bà lên xe máy bị cáo đưa về nhà nhận 10 triệu đồng và 01 bao gạo, nên Cụ bà đồng ý. Sau đó, bị cáo đưa Cụ bà đến địa chỉ 39, Tổ 84, ấp Trung Đông 2, xã Th, huyện M và nói Cụ bà tháo hết nhẫn vàng đưa cho bị cáo giữ, vì sợ mẹ chồng bị cáo thấy Cụ bà đeo vàng thì không phát gạo và cho tiền. Do tin lời bị cáo, Cụ bà tháo 03 chiếc nhẫn vàng và lấy 3.000.000 đồng tiền mặt đưa cho bị cáo bỏ vào cốp xe, sau đó bị cáo điều khiển xe tẩu thoát đúng như nội dung Cáo trạng truy tố.

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

[4] Như vậy, có đủ cơ sở chứng minh ngày 06/4/2023, bị cáo Nguyễn Thị Phương M đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản là 03 chiếc nhẫn vàng trị giá 12.116.160 đồng và 3.000.000 đồng của bị hại Lại Thị U tại địa chỉ: số 39, Tổ 84, ấp Trung Đông 2, xã Th, huyện M, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng giá trị 15.116.160 đồng. Do đó, Bản cáo trạng số: 182/Ctr-VKS ngày 18 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Thị Phương M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.

[5] Điều 174 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...”

[6] Áp dụng điều luật viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án số: 53/2018/HSST, đến ngày 28/2/2021 chấp hành xong, lại tiếp tục phạm tội mới; bị cáo “Phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại theo điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[7] Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét tại quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Từ đó, cần giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[8] Ý kiến đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 03 chiếc nhẫn vàng, tiền Việt Nam: 3.000.000 đồng là tài sản của bà Lại Thị U bị Nguyễn Thị Phương M lừa đảo chiếm đoạt nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Lại Thị U là phù hợp.
  • Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda SH Mode, biển số 59P2 – 458.76, số khung: RLHJF5142GZ000783, số máy: JF51E-0801730 do Nguyễn Thị Phương M đứng tên chủ sở hữu. Bị cáo Nguyễn Thị Phương M sử dụng xe máy biển số 59P2 – 458.76 làm phương tiện để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại. Do đó, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước xe máy biển số 59P2 – 458.76, số khung: RLHJF5142GZ000783, số máy: JF51E-0801730 của Nguyễn Thị Phương M.
  • Đối với 01 USB chứa nội dung ghi nhận việc Mai chở bà Lại Thị U đến tại địa chỉ: 39 Tổ 84 ấp Trung Đông 2, xã Thới Tam Thôn, Hóc Môn để thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lại Thị U đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[11] Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị Phương M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Phương M 02 (hai) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 07/4/2023.

Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe gắn máy hiệu Honda SH Mode, biển số 59P2 – 458.76, số khung: RLHJF5142GZ000783, số máy: JF51E-0801730 của Nguyễn Thị Phương M.
  • Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB chứa nội dung ghi nhận việc Mai chở bà Lại Thị U đến tại địa chỉ: 39 Tổ 84 ấp Trung Đông 2, xã Thới Tam Thôn, Hóc Môn để thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Vật chứng hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang quản lý, theo Quyết định chuyển vật chứng số: 142/QĐ-VKS-HS ngày 12/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/7/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn;

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị Phương M phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


Nơi nhận:

  • - TAND Tp.HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM;
  • - VKSND huyện Hóc Môn;
  • - Công an huyện Hóc Môn;
  • - Chi cục THADS huyện Hóc Môn;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Liên Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2023/HS-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 190/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Căn cứ vào Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Thị Phương M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Phương M 02 (hai) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 07/4/2023. Về xử lý vật chứng: - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe gắn máy hiệu Honda SH Mode, biển số 59P2 – 458.76, số khung: RLHJF5142GZ000783, số máy: JF51E-0801730 của Nguyễn Thị Phương M. - Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB chứa nội dung ghi nhận việc Mai chở bà Lại Thị U đến tại địa chỉ: 39 Tổ 84 ấp Trung Đông 2, xã Thới Tam Thôn, Hóc Môn để thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger