Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 190/2023/HS-PT

Ngày: 27/12/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Minh Thư

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Hiền; bà Trương Thị Lệ Thu

Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 162/2023/ TLPT - HS ngày 05 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Hoàng Tuấn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 61/2023/HS-ST ngày 24/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Hoàng Tuấn H, sinh ngày 25/02/2003 tại huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn X, xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng T và bà Nguyễn Thị L; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giam từ ngày 16/6/2023 đến nay; Có mặt tại điểm cầu thành phần.

- Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo hoặc liên quan đến kháng cáo: Không.

- Những người tham gia tố tụng khác: Cán bộ, chiến sỹ hỗ trợ phiên tòa tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H: Trung tá Bùi Thiên T1 - Tổ trưởng; các đồng chí Đào Quốc K, Phạm Ngọc B - áp giải giám sát.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 13/5/2023, Hoàng Tuấn H có nhu cầu đi thành phố Hà Nội nên đến nhà anh Nguyễn Viết T2 ở địa chỉ xóm N, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh để thuê xe ô tô tự lái. Sau khi thỏa thuận anh T2 đồng ý cho H thuê xe ô tô tải pickup cabin kép, nhãn hiệu Ford Ranger, màu vàng, biển kiểm soát 38C-151.48 (xe anh T2 mua của anh Hồ Ánh H1 nhưng chưa sang tên) trong 2 ngày với giá thuê xe là 1.000.000 đồng/01 ngày đồng thời yêu cầu không được cầm cố, ký gửi xe cho người khác. Anh T2 và Hiệp làm hợp đồng thuê xe, H trả trước cho anh T2 2.000.000 đồng tiền thuê xe, đồng thời anh T2 giao xe ô tô cùng với Giấy chứng nhận kiểm định, Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô và Giấy biên nhận thế chấp ngân hàng của xe ô tô nói trên cho H. Sau đó, H lái xe ra thành phố Hà Nội. Đến ngày 15/5/2023, hết thời hạn thuê xe, anh T2 gọi điện cho H yêu cầu trả xe thì H đề nghị anh T2 cho H thuê thêm 7 ngày nữa, anh T2 đồng ý nhưng yêu cầu H trả tiền thuê trước và nộp 1.000.000 đồng tiền phạt vì trong khoảng thời gian này anh T2 đã hẹn cho khách khác thuê xe. Hiệp đồng ý nhưng chỉ chuyển cho anh T2 số tiền 1.000.000 đồng tiền phạt, chưa trả tiền thuê xe. Đến ngày 22/5/2023, hết thời hạn thuê xe, anh T2 tiếp tục gọi điện cho H yêu cầu trả xe và tiền thuê xe, H đề nghị anh T2 cho H thuê thêm 3 ngày nữa và anh T2 đồng ý. Ngày 23/5/2023, H nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe ô tô nói trên lấy tiền tiêu xài nên đã liên hệ với anh Nguyễn Văn L1 nhờ anh L1 tìm người cầm cố xe ô tô, H nói dối anh L1 chiếc xe trên của anh rể đang ở nước ngoài và mục đích cầm cố để lấy tiền nhập lốp xe ô tô về bán nên anh L1 đồng ý giúp. Anh L1 liên hệ với anh Nguyễn Văn M thì anh M đồng ý đi xem xe, 3 người hẹn gặp nhau ở thị xã S, thành phố Hà Nội để trao đổi. Đến ngày 24/5/2023, H điều khiển xe ô tô nói trên lên thị xã S, thành phố Hà Nội gặp anh L1 và anh M. Tại đây, khi anh M hỏi H về nguồn gốc xe, H nói xe ô tô của anh rể đang ở nước ngoài cho H mượn để đi lại. H nói mình đang cần tiền để nhập lốp xe ô tô về bán nên muốn cầm cố xe. Sau đó, H đưa Giấy chứng nhận kiểm định, Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô và Giấy biên nhận thế chấp ngân hàng của xe ô tô nói trên cho anh M kiểm tra. Sau khi kiểm tra giấy tờ và đối chiếu trùng với số khung số máy thì anh M đồng ý. Hai bên cùng thống nhất thỏa thuận anh M nhận cầm cố chiếc xe ô tô nói trên từ Hiệp với số tiền 100.000.000 đồng, thu lãi trước số tiền 9.000.000 đồng trong vòng 2 tháng và H phải viết giấy dưới hình thức bán xe cho anh M. Lúc này, H tự nguyện cho anh L1 5.000.000 đồng và anh M tự nguyện cho anh L1 1.000.000 đồng tiền môi giới cầm cố xe. Sau đó, anh M đưa cho H số tiền 86.000.000 đồng (trong đó, đưa tiền mặt số tiền 16.000.000 đồng và chuyển khoản số tiền 70.000.000 đồng), anh M đưa cho anh L1 6.000.000 đồng tiền mặt. Sau khi nhận được tiền, H đã chuyển khoản cho anh T2 số tiền 10.000.000 đồng tiền thuê xe trong vòng 10 ngày. Ngày 25/5/2023, hết thời hạn thuê xe, anh T2 gọi điện cho H yêu cầu đưa xe về trả cho anh T2. Lúc này, chiếc xe ô tô nói trên H đã cầm cố và không có khả năng trả lại cho anh T2 nên H đề nghị anh T2 cho thuê xe thêm ít ngày nhưng anh T2 nhất quyết không đồng ý. Ngày 27/5/2023, H liên hệ với anh M và đề nghị cầm cố xe ô tô nói trên thêm 20.000.000 đồng nữa và anh M đồng ý. Sau đó, H đi đến thị xã S, thành phố Hà Nội và gặp anh M đi cùng với anh L1. H và anh M cùng thống nhất anh M cho H cầm cố xe ô tô nói trên thêm 20.000.000 đồng nữa, thu lãi trước số tiền 2.000.000 đồng trong vòng 2 tháng và H phải viết lại giấy bán xe cho anh M với tổng số tiền là 120.000.000 đồng. Sau đó, anh M chuyển khoản cho H số tiền 18.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền cầm cố xe ô tô nói trên H đã trả nợ và tiêu xài cá nhân hết. Sau khi hết thời hạn thuê xe, anh T2 đã nhiều lần gọi điện liên lạc với H yêu cầu trả xe nhưng H giả vờ hứa đưa xe về trả nhưng không thực hiện, sau đó H không nghe máy nữa và lẫn trốn ở thành phố Hà Nội. Ngày 11/6/2023, anh Nguyễn Viết T2 đã đến Công an thành phố H trình báo nội dung sự việc. Đến ngày 15/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã triệu tập Hoàng Tuấn H lên làm việc và H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 24 ngày 15/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân thành phố H kết luận: 01 xe ô tô tải pickup cabin kép, nhãn hiệu Ford Ranger, màu vàng, biển kiểm soát: 38C-151.48, số khung FF50HW630341, số máy P5AT2310311, xe cũ đã qua sử dụng vào thời điểm tháng 5/2023 có giá trị 450.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án: Thu giữ từ anh Nguyễn Văn M 01 chiếc xe ô tô tải pickup cabin kép, nhãn hiệu Ford Ranger, màu vàng, biển kiểm soát: 38C-151.48, đã qua sử dụng; 01 Giấy bán xe ô tô biển kiểm soát 38C-151.48 của Hoàng Tuấn H viết cho anh Nguyễn Văn M; 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số 4462766; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô số 1163511 và 01 Giấy biên nhận thế chấp ngân hàng xe ô tô biển kiểm soát: 38C-151.48 ngày 30/01/2023 giữa anh Hồ Ánh H1 và Ngân hàng C, Chi nhánh H2. Thu giữ từ anh Nguyễn Viết T2 01 Hợp đồng thuê xe ô tô tự lái giữa Hoàng Tuấn H và anh Nguyễn Viết T2; 01 Giấy chứng nhận xóa thế chấp ngân hàng xe ô tô biển kiểm soát: 38C-151.48 ngày 24/8/2023. Đối với 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát: 38C-151.48, 01 Giấy chứng nhận kiểm định, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm, 01 Giấy biên nhận thế chấp ngân hàng và 01 Giấy chứng nhận xóa thế chấp ngân hàng nói trên đã được trả lại cho chủ sở hữu anh Nguyễn Viết T2. Toàn bộ số vật chứng còn lại được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Về dân sự: Anh Nguyễn Viết T2 đã nhận lại tài sản và có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại; Đại diện Ngân hàng C, Chi nhánh H2 không có yêu cầu gì. Anh Nguyễn Văn M có đơn yêu cầu Hoàng Tuấn H bồi thường thiệt hại số tiền 109.000.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 24/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Tuấn H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt Hoàng Tuấn H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 16/6/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 4 Điều 29 Nghị định 96/2016 ngày 01/7/2016 của Chính phủ; điểm c khoản 1 Điều 117, Điều 122, 123, khoản 2 Điều 131 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Hoàng Tuấn H phải trả cho anh Nguyễn Văn M số tiền 109.000.000 đồng.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30.10.2023 bị cáo Hoàng Tuấn H làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm người kháng cáo vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết của vụ án có ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Kháng cáo của bị cáo hợp lệ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng vụ án bị thu giữ cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở khẳng định: Vào ngày 13/5/2023, trên địa bàn thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh, Hoàng Tuấn H đã thuê 01 chiếc xe ô tô tải pickup cabin kép, nhãn hiệu Ford Ranger, màu vàng, biển kiểm soát: 38C-151.48 trị giá 450.000.000 đồng của anh Nguyễn Viết T2 để làm phương tiện đi lại với giá 12.000.000 đồng từ ngày 13/5/2023 đến ngày 25/5/2023. Đến ngày 24/5/2023 và ngày 27/5/2023, H đã cầm cố chiếc xe ô tô nói trên cho anh Nguyễn Văn M với giá 120.000.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 109.000.000 đồng tiêu xài cá nhân hết. Hết hạn thuê xe, anh T2 yêu cầu H trả xe thì H tắt điện thoại và bỏ trốn khỏi địa phương nhằm chiếm đoạt, không trả lại chiếc xe trên cho anh T2. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 Bộ luật Hình sự. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 450.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” quy định tại khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và khung hình phạt trên là đúng người, đúng tội, không oan sai.

[4] Xét kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mức án 8 năm tù mà Tòa sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không xuất trình được thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

[6]. Về án phí: Bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Tuấn H; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 61/2023/HS-ST ngày 24/10/2023 của Tòa án nhân dân TP. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.

Tuyên bố bị cáo Hoàng Tuấn H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản"

Áp dụng Điểm a Khoản 3 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Hoàng Tuấn H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 16/6/2023.

2. Về án phí: Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của U; bị cáo Hoàng Tuấn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - TAND, VKSND cấp sơ thẩm;
  • - CATP Hà Tĩnh;
  • - Chi cục THADS TP Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu Văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Minh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2023/HS-PT ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 190/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Tuấn H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger