Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

——————
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————

Bản án số: 190/2021/HNGĐ-ST

Ngày 30-6-2021

V/v tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Duyên Văn Hiền, Ông Trần Quốc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Bổng là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Ngày 30 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 179/2021/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2021 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 146/2021/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Lý Thị D, sinh năm 1997; cư trú tại khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (có đơn vắng mặt).
  • - Bị đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1988; cư trú tại khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của chị Lý Thị D trình bày: Chị và anh Trần Văn D tự nguyện kết hôn vào năm 2015, đến ngày 05/12/2008 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau. Thời gian chung sống thường xảy ra mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng thường bất đồng quan điểm, lối sống dẫn đến thiếu niềm tin với nhau và đã kéo dài không giải quyết được, do không hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh D.

Về con chung của chị và anh D gồm có một người tên Trần Yến M, sinh ngày 21/6/2016 hiện đang ở cùng anh D, sau khi ly hôn chị D đồng ý giao con cho anh D nuôi, không đặt ra việc cấp dưỡng.

Về tài sản chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Trần Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến phản hồi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Vụ việc theo yêu cầu của chị Lý Thị D được Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Chị Lý Thị D có đơn yêu cầu vắng mặt, anh Trần Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do; căn cứ khoản 1 Điều 228 và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị D và anh D.

[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh D được xác lập vào năm 2015, đến ngày 05/12/2018 đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập có hiệu lực nên hôn nhân được xác định là hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký, nay xảy ra tranh chấp Tòa án căn cứ vào những quy định về chấm dứt hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết.

Thời gian chị D và anh D chung sống thực tế có xảy ra mâu thuẫn, chủ yếu là do có sự bất hòa nhau trong đời sống vợ chồng, thường không tin tưởng nhau làm cho cuộc sống không hạnh phúc. Thời gian kéo dài đôi bên vẫn không tìm được biện pháp hữu hiệu để xoa dịu mâu thuẫn nhằm hàn gắn lại tình cảm vợ chồng trong khi đó anh D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt điều đó cho thấy anh D không có thiện chí để hàn gắn. Thực tế, đã có sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị D được ly hôn với anh D là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị D và anh D có một người con chung tên Trần Yến M, sinh ngày 21/6/2016 hiện đang ở cùng anh D, chị D đồng ý giao con cho anh D nuôi trong khi đó anh D được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt và không có ý kiến gì về con chung, để không làm xáo trộn môi trường sống của con, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận giao con cho anh D nuôi.

Chị D không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con theo quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết trong khi đó anh D vắng mặt và không có ý kiến gì phần tài sản nên không xem xét giải quyết trong cùng vụ án. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí: Chị Lý Thị D là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, phần tạm ứng án phí chị D đã nộp được khấu trừ.

[6] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lý Thị D ly hôn với anh Trần Văn D.

Về con chung: Anh Trần Văn D nuôi con tên Trần Yến M, sinh ngày 21/6/2016 hiện đang ở cùng anh D, phần cấp dưỡng đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

Chị D có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của anh D.

Vì lợi ích của con chưa thành niên nên chị D có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và anh D có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản thành vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch chị Lý Thị D phải chịu 300.000 đồng, chị D đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004777 ngày 22/3/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được khấu trừ.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:
  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - UBND thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; (Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn)
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Phan Thanh Hải
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 190/2021/HNGĐ-ST ngày 30/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 190/2021/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2021
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn gia đình không giải quyết được nên yêu cầu ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger