|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2024/DS-ST Ngày 31 tháng 5 năm 2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng giao khoán dịch vụ” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Đặng Văn Nga
+ Ông Huỳnh Bình
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Đức Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Tất Bắc - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 187/2023/TLST-DS ngày 31/10/2023 về việc “Tranh chấp về hợp đồng giao khoán dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 323/2024/QĐST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1987; Địa chỉ: B, G, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; SĐT: 0962.414.xxx
* Bị đơn: Công ty TNHH T1
Địa chỉ: số D, tổ B, khu phố G, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn C – chức vụ giám đốc. Số điện thoại: 0973.235.xxx
Người đại diện theo ủy quyền: bà Đỗ Thị Thái H, sinh năm 1997; Địa chỉ: tổ B, khu phố G, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai; SĐT: 0842.438.xxx.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị T, sinh năm 1995; địa chỉ: B, chung cư G, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
SĐT: 0902.563.xxx
(Các đương sự vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Văn R trình bày:
Ngày 29/7/2022, ông có ký hợp đồng giao khoán dịch vụ với Công ty TNHH T1 do ông Nguyễn Văn C là người đại diện theo pháp luật để làm thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 962 tờ bản đồ số 43 xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Theo Điều 2 và Điều 4 của Hợp đồng giao khoán dịch vụ, Công ty TNHH T1 (sau đây gọi là Công ty) cam kết thực hiện việc xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong 04 (bốn) tháng, kể từ ngày ông thanh toán tiền tạm ứng. Ngày 08/8/2022, ông đã thanh toán 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng cho Công ty. Tuy nhiên, quá thời hạn thỏa thuận trên, Công ty không thực hiện được thủ tục theo nội dung đã thỏa thuận theo Hợp đồng thuê khoán. Ông R liên hệ để yêu cầu Công ty trả lại cho ông số tiền 50.000.000 đồng đã tạm ứng nhưng ông C không trả.
Ông yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH T1 phải trả cho ông số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng tạm ứng mà ông đã đóng và yêu cầu Công ty TNHH T1 phải trả lãi suất từ ngày 10/6/2023 đến ngày 31/5/2024 với lãi suất 9%/năm, số tiền: 4.387.500 đồng.
* Tại Bản tự khai ngày 06/12/2023 của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Đỗ Thị Thái H trình bày: Do mới tiếp xúc hồ sơ ban đầu nên chưa có ý kiến, trong thời hạn 07 (bảy) ngày sẽ nộp lại bản tự khai của ông Nguyễn Văn C – đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH T1.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà là chủ tài khoản số 19032908045017 – Ngân hàng Thương mại cổ phần K. Vào ngày 08/8/2022, ông Nguyễn Văn R là anh trai của bà, có nhờ bà chuyển vào tài khoản số [...] – Ngân hàng TMCP C1 (V) cho ông Nguyễn Văn C số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng; nội dung chuyển khoản: đặt cọc phí làm sổ T. Đây là số tiền ông R nhờ bà chuyển giúp, bà không đòi hỏi quyền lợi gì trong vụ án này và xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
* Về tố tụng:
- Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý hồ sơ là đúng quy định.
- Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử và đương sự là đúng quy định.
* Về nội dung:
+ Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn R với bị đơn Công ty TNHH T1. Buộc Công ty TNHH T1 phải trả lại cho ông Nguyễn Văn R số tiền
đã nhận 50.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 10/6/2023 đến khi xét xử sơ thẩm với lãi suất 9%/năm.
+ Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:
* Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết:
Tại “Hợp đồng giao khoán dịch vụ” các bên có thỏa thuận lựa chọn Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, việc lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp này trái với quy định tại các Điều 26, 35, 39 và Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự nên không được chấp nhận.
Ông Nguyễn Văn R khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH T1 phải trả số tiền 50.000.000 đồng và tiền lãi do Công ty TNHH T1 vi phạm hợp đồng giao khoán dịch vụ; bị đơn Công ty TNHH T1 có địa chỉ trụ sở chính tại tổ B, khu phố G, thị trấn V, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp về hợp đồng giao khoán dịch vụ”.
Ông Nguyễn Văn R khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH T1 trả lại tiền tạm ứng và tiền lãi theo Hợp đồng giao khoán dịch vụ. Bà Nguyễn Thị T là người chuyển tiền cho Công ty TNHH T1.
Căn cứ Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định ông Nguyễn Văn R là nguyên đơn, Công ty TNHH T1 là bị đơn, bà Nguyễn Thị T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Bị đơn Công ty TNHH T1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nguyên đơn ông Nguyễn Văn R, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
* Về nội dung vụ án:
[3] Bị đơn Công ty TNHH T1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản theo trình tự tố tụng nhưng không tham gia giải quyết vụ án, cũng không thực hiện nghĩa vụ chứng minh, cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
[4] Về hợp đồng giao khoán dịch vụ
Giữa ông Nguyễn Văn R và Công ty TNHH T1 có “Hợp đồng giao khoán dịch vụ” ngày 29/7/2022. Bị đơn Công ty TNHH T1 đã được Tòa án thông báo giao nộp tài liệu, chứng cứ nhưng không tiến hành giao nộp, không yêu cầu trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết, dấu của Công ty.
Tại Điều 3 của “Hợp đồng giao khoán dịch vụ” thỏa thuận: “- ...Bên A trả trước bên B là 50.000.000, số tiền chi phí dịch vụ ngày khi ký hợp đồng này...
- Phương thức thanh toán: chuyển khoản qua số tài khoản 105872656441 V, chủ tài khoản Nguyễn Văn C.”
Thực hiện “Hợp đồng giao khoán dịch vụ”, ngày 08/8/2022, bà Nguyễn Thị T là em gái của ông Nguyễn Văn R đã thông qua số tài khoản 19032908045017 của Ngân hàng TMCP K để chuyển qua số tài khoản 105872656441 của V, chủ tài khoản Nguyễn Văn C số tiền 50.000.000 đồng, nội dung giao dịch: “Đặt cọc phí làm sổ T”.
Như vậy, có căn cứ khẳng định giữa ông Nguyễn Văn R và Công ty TNHH T1 có hợp đồng giao khoán dịch vụ như trình bày của ông R là có thật.
[5] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[5.1] Giữa các bên có hợp đồng dịch vụ như đã phân tích trên, hợp đồng dịch vụ này đúng quy định tại Điều 513, Điều 514 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hợp đồng có giá trị để thực hiện.
Tại Mục 6.2 Điều 6 của “Hợp đồng giao khoán dịch vụ” ngày 29/7/2022, các bên đã thỏa thuận: “Điều 6: Cam kết của bên B:
6.2 Cam kết thực hiện công việc trong vòng 04 tháng và theo đúng trình tự thủ tục được pháp luật quy định”
Ngày 08/8/2022, ông R đã thực hiện việc chuyển 50.000.000 đồng chi phí dịch vụ nhưng đã hết 04 tháng kể từ ngày nhận được tiền, Công ty TNHH T1 vẫn không thực hiện xong nghĩa vụ của hợp đồng nên yêu cầu khởi kiện về việc đòi lại số tiền 50.000.000 đồng của ông R là có cơ sở chấp nhận.
[5.2] Về yêu cầu tính tiền lãi
Tại Điều 6 của Hợp đồng giao khoán dịch vụ ngày 29/7/2022: Công ty TNHH T1 phải thực hiện hợp đồng trong thời hạn 04 tháng. Tuy nhiên, Công ty không thực hiện đúng nghĩa vụ. Các bên có thỏa thuận ngày 10/6/2023 sẽ trả lại tiền tạm ứng. Như vậy, Công ty TNHH T1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn R số tiền 50.000.000 đồng từ ngày 10/6/2023 nhưng Công ty không thực hiện nghĩa vụ. Căn cứ Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015, bị đơn có nghĩa vụ trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Do các bên không có thỏa thuận về lãi nên căn cứ khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, Công ty TNHH T1 phải trả tiền lãi với lãi suất không vượt quá 10%/năm, nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất 9%/năm là có căn cứ chấp nhận. Bị đơn Công ty TNHH T1 có nghĩa vụ trả lãi từ ngày 10/6/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm 31/5/2024 (11 tháng 21 ngày) số tiền:
50.000.000 đồng x 0,75%/tháng x 11 tháng + 50.000.000 đồng x 0,025%/ngày x 21 ngày = 4.387.500 đồng.
Như vậy, Công ty TNHH T1 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn R số tiền: 50.000.000 đồng + 4.387.500 đồng = 54.387.500 đồng (năm mươi tư triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng).
[6] Về lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Do tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt nên không thỏa thuận được lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền, căn cứ Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015, lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm
Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận một phần nên bị đơn Công ty TNHH T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền: 54.387.500 đồng x 5% = 2.719.375 đồng.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn R số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[8] Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 40, 147, 217, 218, 219, 266, 227, 228, 238, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 513, 514, 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn R về việc “Tranh chấp về hợp đồng giao khoán dịch vụ” đối với bị đơn Công ty TNHH T1.
Buộc Công ty TNHH T1 có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Văn R số tiền 54.387.500 đồng (năm mươi tư triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn năm trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc Công ty TNHH T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền 2.719.375 (hai triệu bảy trăm mười chín nghìn ba trăm bảy mươi lăm) đồng.
- Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn R tiền tạm ứng án phí số tiền 1.385.313 (một triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn ba trăm mươi ba) đồng tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005610 ngày 24/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nhung |
Bản án số 19/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng giao khoán dịch vụ
- Số bản án: 19/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng giao khoán dịch vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn R - Công ty P
