|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST Ngày: 31-05-2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN- TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Lê Thị Hồng.
Hội Thẩm Nhân Dân: ông Bùi Văn Tấn; ông Bùi Văn Ơn.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hảo- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn - tỉnh Hoà Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: ông Trần Tú Giang- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hoà Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 28/2024/TLST-HNGĐ ngày 07/03/2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con". Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/04/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 18/QĐST-HNGĐ ngày 13/05/2024 giữa:
- Nguyên đơn: chị Bùi Thị X, sinh năm 1996. Cư trú tại: xóm B, xã Đ, huyện L, tỉnh H. Vắng mặt;
- Bị đơn: anh Bùi Văn B, sinh năm 1993. Cư trú tại: xóm B, xã Đ, huyện L, tỉnh H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn ly hôn và các lời khai của mình, nguyên đơn chị Bùi Thị X trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn B kết hôn với nhau tháng 11 năm 2021 trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Định Cư. Quá trình chung sống, giữa vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, xung đột, cuộc sống chung luôn căng thẳng, nặng nề không có hạnh phúc, không còn tình cảm với nhau. Hiện vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02/2023 đến nay không quan tâm đến nhau nên chị X xin ly hôn anh B.
2. Về con chung: chị X và anh B có 01 con chung là Bùi T, sinh ngày 14/01/2022. Do con hiện còn nhỏ, anh B đi làm xa nên khi ly hôn chị X đề nghị được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung để tạo điều kiện cho con sinh sống và học tập ổn định. Chị X chưa yêu cầu anh B có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với chị.
3. Về tài sản; công nợ chung: chị X khai không có.
Ngoài ra chị X không có yêu cầu gì thêm.
Anh B vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, không có quan điểm gửi đến Toà án.
Phát biểu quan điểm tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình công nhận việc chấp hành đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án. Về việc giải quyết vụ án Kiểm sát viên đề nghị như sau:
Về tố tụng: Anh B được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác nhưng không chấp hành, phiên tòa đã phải hoãn một lần. Chị X vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh B, chị X là có cơ sở theo qui định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Xác định mâu thuẫn giữa chị X và anh B đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị X với anh B là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.
Về con chung: Xét yêu cầu của chị X là phù hợp các Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật HN&GĐ năm 2014 nên đề nghị HĐXX chấp nhận.
Về tài sản; Công nợ chung: chị X khai nhận không có. Do vậy, đề nghị HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án.
Ngoài ra không ai có ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Đây là vụ án về việc ly hôn và bị đơn Bùi Văn B có nơi cư trú tại xóm B, xã Đ, huyện L, tỉnh H nên theo qui định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Về việc vắng mặt của chị Bùi Thị X và anh Bùi Văn B: Anh B vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ; Chị X vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo qui định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh B, chị X theo thủ tục chung.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án HĐXX xét thấy:
Quan hệ hôn nhân giữa chị X và anh B là hợp pháp. Cuộc sống chung vợ chồng thực sự có mâu thuẫn do bất đồng về phong cách sống, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân không còn tình cảm và quan tâm đến nhau. Anh B không đến Tòa thể hiện không có thiện chí hòa giải đoàn tụ vợ chồng, từ bỏ quyền trình bày nguyện vọng của anh trước việc chị X xin ly hôn với anh.
Từ những nhận định trên thấy mâu thuẫn giữa chị X và anh B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị X đối với anh B là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.
[3]. Về con chung: chị X và anh B có 01 con chung là Bùi T, sinh ngày 14/01/2022. Khi ly hôn chị X đề nghị trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung và chưa yêu cầu anh B có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với chị.
[3.1] Về yêu cầu nuôi con: Hội đồng xét xử thấy, do con chung còn nhỏ, anh B đi làm xa và vắng mặt trong các buổi làm việc của Toà án, không có văn bản gửi đến Toà thể hiện nguyện vọng nuôi con, chị X yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con. Xét quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên, điều kiện thực tế và nguyện vọng của đương sự, áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật HN&GĐ năm 2014 thấy cần giao cho chị X là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Bùi T đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật. Sau khi ly hôn, anh B có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật HN&GĐ năm 2014.
[3.2] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án, chị X chưa yêu cầu anh B có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với chị. Chị X có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con bằng một vụ án khác khi anh B có đủ điều kiện và nhu cầu của con thật sự cần thiết. Xét điều kiện thực tế của các bên đương sự; Căn cứ các Điều 82; 83; 84 Luật HN&GĐ năm 2014 HĐXX xét thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị X là phù hợp.
[4]. Về tài sản; công nợ chung: chị X khai nhận không có nên HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án.
[5]. Về án phí: Chị X phải chịu án phí theo qui định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật HN&GĐ năm 2014; Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị X đối với anh Bùi Văn B về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" cụ thể:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị X được ly hôn anh Bùi Văn B.
- Về con chung: Giao con chung là Bùi T, sinh ngày 14/01/2022 cho chị X trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục từ tháng 05/2024 trở đi cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Chị X chưa yêu cầu anh B có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.
Sau khi ly hôn pháp luật vẫn bảo hộ các quyền của cha mẹ với con chưa thành niên (quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở; quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con). Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về án phí: Chị X phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ 300.000₫ tạm ứng án phí chị X đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002227 ngày 07/03/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, nay chị X không phải nộp án phí nữa.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
- Hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng |
Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xiêm Binh
