Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T

TỈNH P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày 30/7/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH P

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thìn và ông Hà Đức Trưởng;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh P tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh P xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST- HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với các Bị cáo:

  1. Họ và tên: Hà Văn T (tên gọi khác: Không);

    Sinh ngày 12 tháng 6 năm 2005, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ;

    Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện tại: Khu M, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Mường;

    Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

    Con ông: Hà Văn N, sinh năm 1983 và bà: Hà Thị C, sinh năm 1985;

    Vợ/con: Chưa;

    Tiền án/tiền sự: Không.

    Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt tại phiên tòa).

    Người bào chữa cho Bị cáo: Ông Lã Thành C1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).

  2. Họ và tên: Hoàng Đình H (tên gọi khác: Không);

    Sinh ngày 17 tháng 10 năm 1996, tại huyện V, tỉnh Yên Bái;

    Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện tại: Thôn V, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái;

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Tày;

    Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

    Con ông: Hoàng Đình H1, sinh năm 1964 (đã chết) và bà: Phạm Thị X, sinh năm 1972;

    Vợ/con: Chưa;

    Tiền án tiền sự: Chưa;

    Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Ngày 05/3/2024, Bị cáo bị UBND xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn), Bị cáo chưa thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt tại phiên tòa).

  3. Họ và tên: Hà Thanh L (tên gọi khác: Không);

    Sinh ngày 04 tháng 11 năm 2000, tại huyện V, tỉnh Yên Bái;

    Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện tại: Thôn V, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái;

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Tày;

    Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

    Con ông: Hà Quang D, sinh năm 1981 và bà: Đinh Thị D1, sinh năm 1981;

    Vợ/con: Chưa;

    Tiền sự: Không;

    Tiền án: Tại Bản án số: 66/2022/HSST ngày 25/8/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, tuyên phạt L 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 05/05/2023, L chấp hành xong hình phạt tù về địa phương, nhưng chưa được xóa án tích.

    Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt tại phiên tòa).

  4. Họ và tên: Phạm Quang M (tên gọi khác: Không);

    Sinh ngày 16 tháng 8 năm 1974, tại huyện V, tỉnh Yên Bái;

    Nơi ĐKNKTT và nơi ở hiện tại: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái;

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh;

    Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

    Con ông: Phạm Văn M1, sinh năm 1951 và bà: Phạm Thị D2, sinh năm 1952;

    Vợ: Phùng Thị C2, sinh năm 1974;

    Con: 02 con (lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2000);

    Tiền án: Không;

    Tiền sự: Năm 2021, Phạm Quang M bị Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yến Bái ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng, từ ngày 09/02/2022 đến ngày 09/02/2023 M chấp hành xong về địa phương, nhưng chưa hết thời hạn được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

    Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật):

    Tại bản án số 32/2024/HS – ST ngày 23/7/2024, Phạm Quang M bị Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái tuyên phạt 6 (sáu) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 09/4/2024, chuyển tạm giam ngày 12/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện V, tỉnh Yên Bái (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

Anh Hoàng Văn T1, sinh năm 2003 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh T1: Ông Bùi Đức D3 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt);

Anh Đinh Việt C3, sinh năm 1985 (có mặt);

Địa chỉ: Khu V, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh: Hoàng Thanh T2, sinh năm 1970 (có mặt);

Anh Nguyễn Đình N1, sinh năm 1985 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Tổ dân phố số A, Thị trấn Nông trường T, huyện V, tỉnh Yên Bái;

Anh Phạm Văn P, sinh năm 1985 (vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

    Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 02 tháng 02 năm 2024, Hà Văn T, đến nhà anh Hà Đức Y, sinh năm: 2003 ở khu K, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ chơi. Tại đây, T gặp và ăn cơm, uống rượu cùng anh Hoàng Văn T1. Trong lúc ăn, T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, T hỏi anh T1 mượn xe ra trung tâm xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ chuyển tiền, T1 đồng ý cho mượn 01 chiếc xe môtô BKS: 19D1 - 259.92, nhãn hiệu Honda - Wave anpha, sơn màu đen bạc, không có gương chiếu hậu, giấy tờ để trong cốp xe.

    Nhận được xe, T đi lên nhà Hoàng Đình H thuộc xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái chơi. T nói cho H biết nguồn gốc chiếc xe và rủ H bán lấy tiền tiêu sài.

    Cả hai tìm cách bán nhưng không bán được, nên H đã rủ thêm Hà Thanh L để cả ba cùng bán. Mặc dù biết chiếc xe trên do T phạm tội có, nhưng L vẫn sử dụng thẻ căn cước công dân của mình làm tin cùng T mang đến Cửa hàng xe máy Tâm H2 thuộc thị trấn Nông Trường T, huyện V, tỉnh Yên Bái, bán với giá: 7.000.000đ (bảy triệu). T chia cho H và L mỗi người 1.000.000đ (một triệu), còn lại chi tiêu cá nhân hết.

    Sau khi phát hiện T chiếm đoạt chiếc xe của mình, ngày 18/03/2024, anh T1 đã làm đơn tố giác Hà Văn T về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản gửi Công an huyện T đề nghị giải quyết vụ việc và xử lý theo quy định của pháp luật.

    Trong quá trình điều tra, Hà Văn T và Hoàng Đình H còn khai nhận: Ngày 29/02/2024 T, H và Hoàng Hữu T3, sinh năm: 1991, thường trú: thôn V, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái cùng nhau thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” là 01 chiếc xe môtô BKS: 19D1 - 049.72, nhãn hiệu Honda - Dream, sơn màu nâu, đen của anh Đinh Việt C3. Sau đó, Hoàng Đình H và Hoàng Hữu T3 đã bán cho Phạm Quang M, với giá 2.000.000đ (hai triệu), số tiền bán xe các đối tượng chi tiêu hết.

    Đối với hành vi này, Phạm Quang M khai nhận: Ngày 01/03/2024, M mua xe từ Hoàng Hữu T3 và Hoàng Đình H, khi bán H và T3 có nói với M về nguồn gốc xe do trộm cắp được mà có, nhưng M vẫn đồng ý mua. Sau đó, M đã bán chiếc xe trên cho Nguyễn Đình N1 được số tiền: 3.000.000đ (ba triệu đồng) và ăn tiêu cá nhân hết. Ngoài ra, M khai báo số tiền: 2.000.000đ (hai triệu) M vay của em ruột là Phạm Văn P, khi mượn tiền M không nói rõ mục đích nên P không biết M dùng vào mục đích gì.

    Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các Bị cáo đều đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

  2. Các vấn đề khác:

    Ngày 18/03/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T thu giữ: 01 chiếc xe môtô BKS: 19D1 - 259.92, nhãn hiệu Honda - Wave anpha, sơn màu đen bạc, không có gương chiếu hậu cùng 01 Giấy đăng ký xe số: 19004129 mang tên Hoàng Văn T1, sinh năm: 2003, thường trú: Khu G, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ tại Cửa hàng xe máy Tâm H3 thuộc thị trấn Nông Trường T, huyện V, tỉnh Yên Bái và trưng cầu định giá tài sản đối với chiếc xe này theo quy định. Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 05/KL - ĐGTS ngày 19/03/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên huyện T, kết luận: 01 chiếc xe mô tô BKS: 19D1 - 259.92, nhãn hiệu Honda - Wave anpha, sơn màu đen bạc đã qua sử dụng trị giá: 16.000.000đ (mười sáu triệu).

    Ngày 20/03/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý đối tượng theo quy định. Ngày 02/04/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định khởi tố bị can và lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Hà Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

    Căn cứ tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, ngày 20/05/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Hoàng Đình H và Hà Thanh L về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

    Ngày 13/05/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T trưng cầu định giá tài sản đối với chiếc xe môtô của anh Đinh Việt C3 theo quy định. Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 14/KL - ĐGTS ngày 16/05/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên huyện T kết luận: 01 chiếc xe môtô BKS: 19D1- 049.72, nhãn hiệu Honda - Dream, sơn màu nâu đã qua sử dụng trị giá: 9.000.000đ. Ngày 05/06/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố bị can đối với Hà Văn T và Hoàng Đình H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

    Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 27/06/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Hoàng Hữu T3 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Quang M về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

    Đối với bị can Hoàng Hữu T3, quá trình điều tra, xác minh bị can bỏ trốn khỏi địa phương, hiện nay không rõ bị can đang ở đâu, làm gì. Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra quyết định truy nã và tạm đình chỉ điều tra Bị can và tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can.

    Đối với chủ cửa hàng xe máy anh Hoàng Thanh T2, quá trình điều tra Cơ quan điều tra - Công an huyện T không có căn cứ để xử lý mà giáo dục nhắc nhở đối với T2. Về phần dân sự T2 không yêu cầu Hà Văn T, Hà Thanh L và Hoàng Đình H phải bồi thường gì về dân sự.

    Đối với Phạm Văn P, khi cho M mượn tiền, P không biết M sử dụng tiền để mua chiếc xe do người khác phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra - Công an huyện T không đề cập xử lý.

    Đối với Nguyễn Đình N1, khi N1 mua, không biết chiếc xe trên do người khác phạm tội mà có và N1 đã tự nguyện giao nộp lại cho Cơ quan điều tra. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T không có căn cứ để xử lý, mà giáo dục, nhắc nhở đối với N1. Về phần dân sự N1 không yêu cầu M phải bồi thường gì về dân sự.

    Tại Cơ quan điều tra, Hà Văn T, Hoàng Đình H, Hà Thanh L và Phạm Quang M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của mình như đã nêu trên

  3. Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:

    Tại Bản cáo trạng số: 20/CT-VKS-TS ngày 09/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Phú Thọ đã truy tố các Bị cáo:

    Bị cáo Hà Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1, Điều 174 và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015;

    Bị cáo Hoàng Đình H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1, Điều 323 của Bộ luật hình sự;

    Bị cáo Hà Thanh L, Phạm Quang M về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1, Điều 323 của Bộ luật hình sự.

    Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

    • Áp dụng khoản 1, Điều 173; khoản 1, Điều 174; điểm s, khoản 1 Điều 51; khoản 1, Điều 38, khoản 1, Điều 55 của BLHS năm 2015 đối với Bị cáo Hà Văn T;
    • Áp dụng khoản 1, Điều 173; khoản 1, Điều 323; điểm s, khoản 1, Điều 51; khoản 1, Điều 38, khoản 1, Điều 55 của BLHS năm 2015 đối với Bị cáo Hoàng Đình H;
    • Áp dụng khoản 1, Điều 323; điểm s, khoản 1, Điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52; khoản 1, Điều 38 của BLHS năm 2015 đối với Bị cáo Hà Thanh L;
    • Áp dụng khoản 1, Điều 323; điểm s, khoản 1, Điều 51 và khoản 1, Điều 38 của BLHS năm 2015 đối với Bị cáo Phạm Quang M.
    • Đề nghị Tuyên bố các Bị cáo:
      • Hà Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản";
      • Hoàng Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
      • Hà Thanh L, Phạm Quang M phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
    • Đề nghị xử phạt các Bị cáo:
      • Hà Văn T: Từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; xử phạt từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là từ 24 (hai mươi tư) đến 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 02 tháng 4 năm 2024);
      • Hoàng Đình H từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; xử phạt từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt cho cả hai tội là từ 24 (hai mươi tư) đến 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 20 tháng 5 năm 2024);
      • Hà Thanh L từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 20 tháng 5 năm 2024);
      • Phạm Quang M từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù đối với tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 09/4/2024).
    • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các Bị cáo;
    • Áp dụng khoản 1, Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam các Bị cáo để đảm bảo thi hành án;
    • Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu các Bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;
    • Về xử lý vật chứng:

    Áp dụng khoản 2, Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    Xác nhận ngày 18/6/2024 và ngày 27/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại tài sản cho Bị hại Hoàng Văn T1 và Đinh Việt C3.

    Trả lại cho Bị cáo Hà Thanh L 01 căn cước công dân đã qua sử dụng.

  4. Người bào chữa cho Bị cáo Hà Văn T đề nghị:

    Đồng ý với quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt đối với Bị cáo, tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xem xét đến thái độ ăn năn, hối cải và hoàn cảnh của Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn để cho Bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

  5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị hại Hoàng Văn T1:

    Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

  6. Các Bị cáo nói lời sau cùng:

    Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, cho các Bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội.

Tại phiên tòa hôm nay các Bị cáo: Hà Văn T, Hoàng Đình H, Hà Thanh LPhạm Quang M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; thừa nhận Bản cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai của các Bị cáo thống nhất với Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, lời khai của các Bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận giám định, vật chứng thu được cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án.

Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Ngày 02/02/2024, Hà Văn T dùng thủ đoạn gian dối, chiếm đoạt của anh Hoàng Văn T1, 01 chiếc xe môtô BKS: 19D1 – 259.92, nhãn hiệu Honda – Wave, sơn màu đen bạc, trị giá: 16.000.000đ (mười sáu triệu đồng). Sau khi chiếm đoạt, T tìm cách tiêu thụ nên đã nhờ Hoàng Đình HHà Thanh L bán cho anh Hoàng Thanh T2 với giá 7.000.000đ (bảy triệu đồng), các đối tượng đã chia nhau sử dụng hết khoản tiền này.

Ngoài hành vi nêu trên, Hà Văn T, Hoàng Đình H ngày 29/02/2024 Hà Văn T, Hoàng Đình H và Hoàng Hữu T3 cùng nhau trộm cắp của anh Đinh Việt C3 01 chiếc xe môtô BKS: 19 D1 - 049.72, nhãn hiệu Honda - Dream, sơn màu nâu, trị giá: 9.000.000đ (chín triệu đồng). Sau đó, Hoàng Đình H và Hoàng Hữu T3 bán cho Phạm Quang M với giá 2.000.000đ (hai triệu), mặc dù M biết nguồn gốc tài sản nhưng vẫn đồng ý mua, sau đó, bán lại cho anh Nguyễn Đình N1 để kiếm lời.

Các Bị cáo T3, L, HM thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, mặc dù biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vì mục đích vụ lợi nên vẫn cố ý thực hiện, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, xâm hại đến trật tự công cộng là nhóm khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ.

Từ các nhận định trên đã đủ cơ sở xác định: Hành vi của những Bị cáo có tên nêu trên đã thỏa mãn yếu tố cấu thành các tội danh sau:

Đối với Bị cáo Hà Văn T là tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1, Điều 174 và tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 của Bộ luật hình sự;

Bị cáo Hoàng Đình H là tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1, Điều 323 của Bộ luật hình sự;

Bị cáo Hà Thanh LPhạm Quang M là tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1, Điều 323 của Bộ luật hình sự.

Tội phạm và hình phạt cụ thể như sau:

Tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

  • Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tuy nhiên, hành vi phạm tội của các Bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, xâm hại đến trật tự công cộng, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy cần được đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  • Về vai trò của các Bị cáo trong vụ án thấy rằng: Đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Hoàng Văn T1 do một mình Bị cáo T thực hiện, nên không có đồng phạm. Khi tiêu thụ tài sản, Bị cáo T là chủ mưu, hưởng lợi bất chính nhiều nhất, Bị cáo H, L là người giúp sức tích cực; Đối với hành vi trộm cắp tài sản của anh Đinh Việt C3 thì Bị cáo T và Bị cáo H cùng là người thực hành, Bị cáo Hoàng hưởng lợi bất chính nhiều hơn Bị cáo T; Bị cáo M thực hiện riêng lẻ việc tiêu thụ tài sản do Bị cáo T và Bị cáo H trộm cắp được, nên không có đồng phạm cùng tham gia. Như vậy, đủ căn cứ để xác định, vụ án có đồng phạm, nhưng các Bị cáo không bàn bạc cụ thể hay phân công nhiệm vụ, vai trò cho từng người nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn.
  • Về nhân thân:
    • Bị cáo Hà Văn T: Chưa có tiền án, tiền sự nhưng qua quá trình điều tra, xác định Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, thường xuyên vắng mặt nơi cư trú, có mối quan hệ phức tạp với các đối tượng khác ngoài địa bàn; Bên cạnh đó, trong một thời gian ngắn, Bị cáo đã thực hiện 02 hành vi phạm tội đều xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác;
    • Bị cáo Hoàng Đình H: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng ngay sau khi thực hiện hành vi tiêu thụ và trộm cắp tài sản, Bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản, chưa thực hiện xong nghĩa vụ khi bị xử phạt vi phạm hành chính. Mặt khác, trong thời gian ngắn, Bị cáo đã thực hiện 02 hành vi phạm tội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và trật tự công cộng;
    • Bị cáo Hà Thanh L: Là đối tượng nghiện ma túy, thường xuyên vắng mặt tại địa phương, Bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tính đến thời điểm phạm tội, Bị cáo chưa được xóa án tích;
    • Bị cáo Phạm Quang M: Có 01 tiền sự liên quan đến việc áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tại bản án số 32/2024/HS – ST ngày 23/7/2024, Phạm Quang M bị Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái tuyên phạt 06 (sáu) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
    • Các Bị cáo: Hà Văn T, Hoàng Đình HPhạm Quang M không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 52 của BLHS năm 2015;
    • Bị cáo Hà Thanh L: Tại Bản án số: 66/2022/HSST ngày 25/8/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, tuyên phạt L 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 05/05/2023, L chấp hành xong hình phạt tù về địa phương, nhưng chưa được xóa án tích. Theo quy định tại khoản 1, Điều 53 của Bộ luật hình sự thì lần phạm tội này của Bị cáo L thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy, Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Trong quá trình Điều tra và tại phiên tòa các Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình 01 tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS năm 2015.

Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của các Bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, với lỗi cố ý trực tiếp, mang mục đích vụ lợi, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, xâm phạm đến trật tự công cộng, các quan hệ này là khách thể được luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương; mặt khác, các Bị cáo đều có nhân thân xấu, có tiền án, tiền sự hoặc trong một thời gian ngắn thực hiện liên tiếp nhiều hành vi phạm tội. Do vậy, cần áp dụng khoản 1, Điều 38 của BLHS năm 2015, xử phạt các Bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt, cho các Bị cáo hình phạt ở mức thấp theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp và cũng thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Đối với các tội quy định tại Điều 173, 174, 323 của Bộ luật hình sự thì đều có hình phạt bổ sung. Cụ thể:

  • Tại khoản 5, Điều 173 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”;
  • Tại khoản 5, Điều 174 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”;
  • Tại khoản 5, Điều 323 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Trong vụ án này, Các Bị cáo đều là lao động tự do, không có tài sản riêng gì có giá trị nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các Bị cáo.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Ngày 18/6/2024, anh Hoàng Văn T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì đối với Hà Văn T;

Ngày 27/6/2024, anh Đinh Việt C3 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì đối với Hà Văn T, Hoàng Đình H;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Thanh T2, anh Nguyễn Đình N1 và anh Phạm Văn P đều không yêu cầu các Bị cáo T, H, L, M phải trả lại số tiền đã dùng để mua xe hoặc số tiền đã cho vay.

[5] Về xử lý vật chứng:

Xác nhận ngày 18/6/2024 và ngày 27/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại tài sản cho Bị hại Hoàng Văn T1 và Đinh Việt C3.

Trả lại cho Hà Thang L1 01 căn cước công dân đã qua sử dụng.

[6] Đối với các vấn đề khác của vụ án:

Đối với bị can Hoàng Hữu T3, quá trình điều tra, xác minh bị can bỏ trốn khỏi địa phương, hiện nay không rõ bị can đang ở đâu, làm gì. Ngày 30/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định truy nã số 226/QĐTN – CSĐT, Quyết định Tạm đình chỉ điều tra bị can số 227A/QĐ – ĐCSHS và Quyết định Tạm đình chỉ điều tra vụ án hình số 227B/QĐ – CSĐT đối với Bị can Hoàng Hữu T3 là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với Hoàng Thanh T2, và Nguyễn Đình N1, khi mua tài sản cả hai đều không biết nguồn gốc xe do người khác phạm tội mà có và đã tự nguyện giao nộp lại tài sản. Do vậy, Cơ quan điều tra - Công an huyện T không để cập xử lý là phù hợp với quy định tại khoản 2, Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với Phạm Văn P, khi cho M mượn tiền, P không biết M sử dụng tiền để mua chiếc xe do người khác phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra - Công an huyện T không đề cập xử lý là phù hợp với quy định tại khoản 2, Điều 157 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về án phí: Bị cáo Hà Văn T là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn và có đơn xin được miễn án phí nên được miễn án phí; các Bị cáo còn lại phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Đề nghị của Kiểm sát viên, Người Bào chữa cho Bị cáo, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị hại tại phiên tòa phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ kết tội:
    • - Áp dụng khoản 1, Điều 173, khoản 1, Điều 174; điểm s, khoản 1 Điều 51; khoản 1, Điều 38, điểm a, khoản 1, Điều 55 của Bộ luật hình sự đối với Bị cáo Hà Văn T;
    • - Áp dụng khoản 1, Điều 173, khoản 1, Điều 323; điểm s, khoản 1 Điều 51; khoản 1, Điều 38, điểm a, khoản 1, Điều 55 của Bộ luật hình sự đối với Bị cáo Hoàng Đình H;
    • - Áp dụng khoản 1, Điều 323; điểm s, khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52; khoản 1, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Bị cáo Hà Thanh L;
    • - Áp dụng khoản 1, Điều 323; điểm s, khoản 1 Điều 51 và khoản 1, Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Bị cáo Phạm Quang M;
  2. Tuyên bố:
    • - Bị cáo Hà Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”;
    • - Bị cáo Hoàng Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
    • - Bị cáo Hà Thanh L, Phạm Quang M phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
  3. Trách nhiệm hình sự, hình phạt, biện pháp tư pháp:
    • - Xử phạt Bị cáo: Hà Văn T 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt đã tuyên đối với 02 tội danh buộc Bị cáo phải chấp hành 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 02/4/2024);
    • - Xử phạt Bị cáo Hoàng Đình H 9 (chín) tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt đã tuyên đối với 02 tội danh buộc Bị cáo phải chấp hành 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 20/5/2024);
    • - Xử phạt Bị cáo Hà Thanh L 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 20/5/2024);
    • - Xử phạt Bị cáo Phạm Quang M 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 09/4/2024);
    • - Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các Bị cáo: Hà Văn T, Hoàng Đình H, Hà Thanh LPhạm Quang M.
  4. Về trách nhiệm dân sự:
  5. Xác nhận anh Hoàng Văn T1 và anh Hoàng Thanh T2 không yêu cầu các Bị cáo Hà Văn T, Hoàng Đình HHà Thanh L phải bồi thường thiệt hại; Anh Đinh Việt C3 và anh Nguyễn Đình N1 không yêu cầu các Bị cáo Hà Văn T, Hoàng Đình H, Phạm Quang M phải bồi thường thiệt hại; Anh Phạm Văn P không yêu cầu Bị cáo Phạm Quang M phải trả lại số tiền đã cho Bị cáo M vay.

  6. Về xử lý vật chứng:
  7. Áp dụng khoản 2, Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    • - Xác nhận ngày 18/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho B hại Hoàng Văn T1 01 chiếc xe môtô BKS: 19D1 - 259.92, nhãn hiệu Honda - Wave anpha, sơn màu đen bạc và 01 Đăng ký xe mang tên Hoàng Văn T1;
    • - Xác nhận ngày 27/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho B hại Đinh Việt C3 01 chiếc xe môtô BKS: 19D1- 049.72, nhãn hiệu Honda - Dream, sơn màu nâu đã qua sử dụng;
    • - Trả lại cho Bị cáo Hà Thanh L 01 căn cước công dân đã qua sử dụng mang tên: Hà Thanh L, sinh ngày 04/11/2000, số: [...], cấp ngày 03/4/2024, do Cục C4 về TTHX – Bộ C5 cấp.

    Vật chứng đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn ngày 29/7/2024.

  8. Về án phí:
  9. Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ, khoản 1, khoản 2, Điều 12, Điều 14, khoản 6, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Bị cáo Hà Văn T; Buộc Bị cáo Hà Thanh L, Hoàng Đình HPhạm Quang M mỗi Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  10. Về quyền kháng cáo:
  11. Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự các Bị cáo, Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - CQ CSĐT Công an huyện;
  • - CQ THA dân sự huyện;
  • - UBND xã nơi b/c thường trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tân Khải Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH P về vụ án hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH P
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn T cùng đồng phạm- Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger