Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CỬA LÒ

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày 28-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trà Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Soa và bà Nguyễn Thị Thủy.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền – Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Thị H, tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1994 tại thị xã C, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: khối G, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Huy H1 (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Q (đã chết); Anh chị em ruột có 08 người, bị cáo là con thứ 8; Chồng: Võ Lý H2, sinh năm 1990; con: 01 con 04 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 16/4/2024 đến ngày 22/4/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” kể từ ngày 22/4/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị L, tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 20 tháng 5 năm 1987 tại thị xã C, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: khối C, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: xóm H, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh L1, sinh năm 1958 và con bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1961; Anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ 4; Chồng: Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1982; con: 02 con (nhỏ nhất 08 tuổi, lớn nhất 11 tuổi); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 16/4/2024 đến ngày 22/4/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” kể từ ngày 22/4/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Lê Thị D, tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 10 tháng 11 năm 1989 tại thị xã C, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: khối D, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình N1 (đã chết) và con bà Lưu Thị N2, sinh năm 1950; Anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ 6; Chồng: Đặng Anh T, sinh năm 1983; con: 03 con (nhỏ nhất 01 tuổi, lớn nhất 15 tuổi); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” kể từ ngày 22/4/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Nguyễn Thị H4, tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 10 tháng 9 năm 1987 tại thị xã C, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: khối F, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: khối D, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1957 và con bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1957; Anh chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ 3; Chồng: Trần Thanh S, sinh năm 1982; con: 03 con (nhỏ nhất 06 tuổi, lớn nhất 16 tuổi); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2014 bị Công an thị xã C xử phạt hành chính 2.000.000đ về hành vi đánh bạc (đã chấp hành xong ngày 28/11/2014). Bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 16/4/2024 đến ngày 22/4/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” kể từ ngày 22/4/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ, ngày 16/4/2024, Trần Thị H đang ở nhà thuộc khối G, phường N, thị xã C thì Nguyễn Thị H4 và Nguyễn Thị L đi bộ đến mục đích mua hải sản (hàu). Trong lúc chờ để lấy hàu, H rủ H4 và L chơi bài ăn tiền bằng hình thức đánh phỏm thì H4 và L đồng ý. H đi ra quán tạp hóa gần nhà mua 02 bộ bài tú lơ khơ màu xanh về rồi cả 3 người đi lên phòng ngủ tầng 2 nhà H để đánh bạc. Khoảng 15 giờ cùng ngày Lê Thị D đi bộ sang nhà H chơi, H rủ D đánh bạc thì D đồng ý vào đánh bạc cùng H, H4 và L. Cả 4 người thống nhất đánh phỏm với cách thức: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài để đánh, các quân bài được tính điểm từ nhỏ đến lớn là A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K tương ứng với điểm từ 1 đến 13. Mỗi ván bài bắt đầu, người cầm bài chia cho mình 10 quân bài, còn lại 3 người mỗi người 9 quân bài, số bài thừa còn lại đặt úp xuống chiếu để người choi bốc bài khi chơi. Sau đó người đánh trước 01 quân bài cho người bên cạnh theo vòng tròn đã quy định, nếu người bên cạnh “ăn” được (ghép được phỏm) quân bài của người đánh thì người ăn đó tiếp tục đánh cho người bên cạnh kế tiếp, nếu người đó không “ăn” được thì phải bốc 01 quân bài đã úp trên chiếu. Các đối tượng thống nhất, ù mỗi ván là 120.000 đ (một trăm hai mươi ngàn đồng), cháy (không có phỏm) mất 80.000đ (tám mươi ngàn đồng), người về thứ 2, 3, 4 tương ứng số tiền 20.000đ (hai mươi ngàn đồng), 40.000đ (bốn mươi ngàn đồng) và 60.000₫ (sáu mươi ngàn đồng).

Đánh bạc đến 16 giờ cùng ngày thì bị tổ công tác Công an phường N, thị xã C phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc 02 bộ bài tú lơ khơ đã sử dụng, 03 chiếc điện thoại di động và số tiền 8.500.000đ (tám triệu năm trăm ngàn đồng), trong đó: Trần thị H5 sử dụng 4.950.000₫ (Bốn triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng), Nguyễn Thị L sử dụng 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm ngàn đồng), Nguyễn Thị H4 sử dụng 250.000đ (Hai trăm năm mươi ngàn đồng) và Nguyễn Thị D1 sử dụng 1.100.000đ (Một triệu một trăm ngàn đồng). Tổng số tiền các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 8.500.000đ (Tám triệu năm trăm ngàn đồng).

Vật chứng, tài sản thu giữ:

  • + 02 (Hai) bộ bài tú lơ khơ 52 quân màu xanh các đối tượng sử dụng để đánh bạc. Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng Công an thị xã C.
  • + Số tiền: 8.500.000đ (Tám triệu năm trăm ngàn đồng) thu giữ trên chiếu bạc. Hiện đang tạm gửi tại Kho bạc nhà nước C.
  • + 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, có ốp vỏ màu tím, máy đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị H4, 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đen, bị hỏng màn hình, không sử dụng được thu giữ của Lê Thị D và 01 (Một) điện thoại OPPO Renno6 5G màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Thị L. Quá trình điều tra xác định các tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã trả lại cho Nguyễn Thị H4, Lê Thị D và Nguyễn Thị L.

Bản cáo trạng số 17/CT-VKS-CL ngày 05 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An đã truy tố Trần Thị H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H4 và Lê Thị D về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Trần Thị H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H4 và Lê Thị D phạm tội “Đánh bạc”

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Trần Thị H 3 đến 4 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000đ đến 15.000.000₫ .

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H4, Lê Thị D mỗi bị cáo 20.000.000 đến 25.000.000 đồng.

Về vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 8.500.000đ (tám triệu năm trăm nghìn đồng). Tịch thu tiêu hủy 02 (Hai) bộ bài T1 lơ khơ màu xanh mỗi bộ bài có 52 quân.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H4, Lê Thị D đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát, không có ý kiến, không tranh luận. Bị cáo Trần Thị H không tranh luận nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên toà, các bị cáo Trần Thị H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H4, Lê Thị D đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng thu giữ và các chứng cứ tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Vì vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng từ 14 giờ ngày 16/4/2024, Trần Thị H đã khởi xướng, đi mua 02 bộ bài tu lơ khơ về và rủ Nguyễn Thị H4, Nguyễn Thị L và Lê Thị D chơi bài ăn tiền với hình thức đánh phỏm tại phòng ngủ tầng 2 nhà ở của Trần Thị H. Đến 16 giờ cùng ngày khi các đối tượng đang đánh bạc thì bị tổ công tác Công an phường N, thị xã C phát hiện bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 8.500.000đ (Tám triệu năm trăm ngàn đồng). Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò đã truy tố các bị cáo Trần Thị H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H4, Lê Thị D về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[3]. Xét tính chất vụ án, vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo thấy rằng:

[3.1]. Về tính chất vụ án, vai trò cuả các bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực pháp luật để chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm không lớn cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn. Trong tình hình hiện nay, tệ nạn đánh bạc đang gây nên bức xúc cho toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục và đời sống kinh tế của bản thân các bị cáo, gia đình và xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Ngoài ra, đây là vụ án có nhiều người tham gia thực hiện tội phạm với tính chất đồng phạm giản đơn nên cần phân hóa vai trò của từng người để áp dụng hình phạt phù hợp.

Bị cáo Trần Thị H là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo còn lại đánh bạc nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H4, Lê Thị D đều tham gia đánh bạc khi bị cáo H rủ rê nên các bị cáo này có vai trò ngang nhau trong vụ án và sau bị cáo H. Vì vậy, cần xem xét áp dụng hình phạt đối với các bị cáo tương xứng với vai trò, hành vi của từng bị cáo trong vụ án mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Thị H4 có nhân thân năm 2014 đã bị xử phạt hành chính.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Trần Thị H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H4, Lê Thị D đều thuộc trường hợp phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Sau khi phạm tội các bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho tất cả các bị cáo. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Thị L có bố đẻ tham gia kháng chiến bảo vệ tổ quốc, bố chồng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ. Bị cáo Nguyễn Thị H4 có bố đẻ, bố chồng tham gia kháng chiến chống Mỹ. Bị cáo Nguyễn Thị D1 có mẹ đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng cho các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H4 và Lê Thị D.

Xét thấy, các bị cáo Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H4, Lê Thị D có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc không lớn, nhất thời phạm tội nên chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Đối với bị cáo Trần Thị H là người khởi xướng, rủ rê, tuy nhiên bị cáo phạm tội do bộc phát và nhận thức kém. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xét xử bị cáo dưới khung và áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng:

+ Số tiền ngân hàng N3 8.500.000đ (tám triệu năm trăm nghìn đồng) là của các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi Đánh bạc nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

+ 02 (hai) bộ bài Tulơkhơ màu xanh mỗi bộ bài có 52 quân các bị cáo sử dụng để đánh bạc cần tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với các điện thoại di động thu giữ của các bị cáo, quá trình điều tra xác định những điện thoại di động trên không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho các bị cáo là đúng quy định pháp luật.

[7] Về án phí: Các bị cáo Trần Thị H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H4, Lê Thị D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Trần Thị H 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Thị H cho ủy ban nhân dân phường N, thị xã C giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Phạt tiền bị cáo 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H4, Lê Thị D mỗi bị cáo 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 8.500.000đ (tám triệu năm trăm nghìn đồng). (Hiện đang được tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước thị xã C, tỉnh Nghệ An theo Biên bản giao nhận tài sản số 04/2024/BBBG-CACL ngày 17/5/2024).

+ Tịch thu tiêu hủy 02 (Hai) bộ bài Tulơkhơ màu xanh mỗi bộ bài có 52 quân. (Tình trạng, đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/6/2024 giữa cơ quan Công an thị xã C, tỉnh Nghệ An và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo Trần Thị H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H4, Lê Thị D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Trần Thị H, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H4, Lê Thị D có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh NA;
  • - VKSND thị xã Cửa Lò;
  • - Công an thị xã Cửa Lò;
  • - Các bị cáo;
  • - Chi cục THADS thị xã Cửa Lò;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Trà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ - TỈNH NGHỆ AN về đánh bạc

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H và đồng phạm - Đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger