|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 19/2024/DS-ST. Ngày: 28/6/2024. V/v tranh chấp: “Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hùng Cường.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Hùng Em.
- Ông Nguyễn Văn Sĩ
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, cán bộ HùngToà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Tuyết Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 28/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 379/2023/TLST- DS ngày 30 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2024/QÐST-DS ngày 13/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N.
- Bị đơn:
- Phạm Minh C, sinh năm 1994, vắng mặt.
- Phạm Thị Tuyết L, sinh năm 1989, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thành T1, sinh năm 1977, vắng mặt.
- Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969, vắng mặt.
- Phạm Văn L1, sinh năm 1965, vắng mặt.
Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V. Chức vụ Tổng giám đốc Ngân hàng N.
Người đại diện theo ủy quyền cho Ngân hàng N: Ông Bùi Văn P. Chức vụ Giám đốc Ngân hàng N chi nhánh huyện T, Đồng Tháp (Theo Quyết định ủy quyền số: 2664/QĐ-NHN0-PC, ngày 01/12/2022).
Người đại diện theo ủy quyền ông Bùi Văn P: Ông Nguyễn Anh T. Chức vụ Phó Giám đốc Ngân hàng N chi nhánh huyện T, Đồng Tháp (Theo giấy ủy quyền ngày 03/11/2023), có mặt.
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 14/8/2023, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện ngày 16/5/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn là Ngân hàng N (Ngân hàng), ông Nguyễn Anh T trình bày:
Ông Phạm Minh C và bà Phạm Thị Tuyết L có vay tại Ngân hàng tổng số tiền 810.000.000đ theo 03 Hợp đồng tín dụng như sau:
Hợp đồng tín dụng số 02111811.260, ngày vay 07/11/2018, ngày đến hạn 05/11/2023, số tiền vay 260.000.000đ, thời hạn vay 60 tháng, phân kỳ trả nợ gốc 05 kỳ, nợ lãi 10 kỳ (phát sinh theo dư nợ thực tế). Đã trả được nợ gốc 03 kỳ 150.000.000đ và lãi đến ngày 31/01/2023. Phân kỳ kế tiếp là ngày 05/11/2022 phải trả 50.000.000đ và lãi phát sinh. Hiện còn dư nợ gốc 110.000.000đ và nợ lãi đến ngày 14/08/2023 là 8.793.562 đ, đã quá hạn 02 kỳ nợ gốc từ ngày 05/11/2022 cho đến nay.
Hợp đồng tín dụng số 02.1.6506LAV20210070, ngày vay 09/11/2021, ngày đến hạn 09/11/2022, số tiền vay 100.000.000đ, thời hạn vay 12 tháng, đã nộp lãi đến ngày 31/01/2023 số tiền là 13.371.780đ. Hiện còn nợ gốc 100.000.000đ.
Hợp đồng tín dụng số 02.1.6506LAV202106950, ngày vay 24/12/2021, ngày đến hạn 24/12/2022, số tiền vay 600.000.000đ, thời hạn vay 12 tháng, đã nộp lãi đến ngày 24/06/2022 số tiền là 32.945.754đ. Hiện còn dư nợ gốc 600.000.000đ.
Nay do ông Phạm Minh C và bà Phạm Thị Tuyết L không trả nợ đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng.
Nay Ngân hàng yêu cầu ông C và ông T1 phải liên đới trả số tiền vay gốc 110.000.000đ theo Hợp đồng tín dụng số 02111811.260 ngày 07/11/2018 và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/02/2023 đến ngày 28/6/2024 số tiền là 24.456.164đ; yêu cầu ông C, bà L và ông T1 phải liên đới trả số tiền vay gốc 100.000.000đ theo Hợp đồng tín dụng số 02.1.6506LAV20210070, ngày 09/11/2021 và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/02/2023 đến ngày 28/6/2024 số tiền là 24.461.644đ và yêu cầu ông C, bà L và ông T1 phải liên đới trả số tiền vay gốc 600.000.000đ theo Hợp đồng tín dụng số 02.1.6506LAV202106950, ngày 24/12/2021 và tiền lãi phát sinh từ ngày 25/6/2022 đến ngày 28/6/2024 số tiền là 182.499.315đ và yêu cầu tiếp tục tính lãi từ ngày 29/6/2024 theo từng hợp đồng tín dụng cho đến khi trả xong trả gốc cho Ngân hàng N và yêu cầu công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02112111.110 ngày 22/12/2021 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02111811.260 ngày 06/11/2018.
Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02112111.111 ngày 22/12/2021 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02112111.109 ngày 22/12/2021. Nay Ngân hàng rút lại không yêu cầu.
Bị đơn Phạm Minh C, Phạm Thị Tuyết L vắng mặt, không có văn bản trình bày.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành T1 vắng mặt, tại tờ tường trình ngày 24/5/2024 trình bày.
Ngân hàng yêu cầu ông C, bà L và ông T1 phải liên đới trả số tiền vay gốc còn thiếu là 810.000.000đ và nợ lãi tạm tính đến ngày 24/5/2024 là 218.500.000₫ theo từng Hợp đồng tín dụng nêu trên. Tổng cộng gốc và lãi là 1.028.500.000₫ và yêu cầu tiếp tục tính lãi từ ngày 25/5/2024 cho đến khi trả xong trả gốc cho Ngân hàng. Ông T1 đồng ý trả số tiền gốc và lãi theo yêu cầu Ngân hàng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 vắng mặt, (có đơn khởi kiện ngày 13/5/2024 và đơn xin rút đơn khởi kiện ngày 23/5/2024) trình bày:
Bà T2 yêu cầu ông T1 phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T2 với ông T1 lập ngày 12/12/2000 là làm thủ tục sang tên đối với diện tích đất ở tại nông thôn là 36m², thuộc một phần thửa 964, tờ bản đồ số 02 do ông T1 đứng tên, đất tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Nay bà T2 rút lại yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu khởi kiện ông T1 nữa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn L1 trình bày:
Ông L1 có cố của ông T1 diện tích 5.200m² (đo đạc thực 6.508,6m²), thuộc thửa đất số 2476, tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 481646, số vào sổ cấp GCN: CH03189 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 28/12/2016 do hộ ông T1 đứng tên. Nay do tình cảm anh em (liên quan sui gia, em rể của T1 là em ruột của ông T1) nên ông L1 không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình thụ lý và giải quyết của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ theo trình tự thủ tục quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; các Điều 288, 299, 317, 318, 319, 320, 323, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng N đối với ông Phạm Minh C và bà Phạm Thị Tuyết L, ông Nguyễn Thành T1.
- Buộc ông Phạm Minh C và ông Nguyễn Thành T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N số tiền vay gốc còn thiếu là 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/02/2023 đến ngày 28/6/2024 là 24.461.644đ (Hai mươi bốn triệu, bốn trăm sáu mươi một nghìn, sáu trăm bốn mươi bốn đồng). Tổng cộng gốc và lãi là: 134.461.644đ (Một trăm ba mươi bốn triệu, bốn trăm sáu mươi một nghìn, sáu trăm bốn mươi bốn đồng).
- Buộc ông Phạm Minh C, bà Phạm Thị Tuyết L và ông Nguyễn Thành T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N số tiền vay gốc còn thiếu là 100.000.000₫ (Một trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/02/2023 đến ngày 28/6/2024 là 24.466.164₫ (Hai mươi bốn triệu, bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng, một trăm sáu mươi bốn đồng). Tổng cộng gốc và lãi là: 124.456.164đ (Một trăm hai mươi bốn triệu, bốn trăm năm mươi sáu nghìn, một trăm sáu mươi bốn đồng).
- Buộc ông Phạm Minh C, bà Phạm Thị Tuyết L và ông Nguyễn Thành T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N số tiền vay gốc còn thiếu là 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 25/6/2022 đến ngày 28/6/2024 là 182.499.315đ (Một trăm tám mươi hai triệu, bốn trăm chín mươi chín nghìn, ba trăm mười lăm đồng). Tổng cộng gốc và lãi là: 782.499.315đ (Bảy trăm tám mươi hai triệu, bốn trăm chín mươi chín nghìn, ba trăm mười lăm đồng).
- Công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02112111.110 ngày 22/12/2021 giữa bên thế chấp là hộ ông Nguyễn Thành T1, bà Phạm Thị Tuyết L và bên nhận thế chấp là Ngân hàng N, chi nhánh huyện T, Đồng Tháp, Phòng Giao Dịch khu vực I T là hợp pháp.
- Công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02111811.260 ngày 06/11/2018 giữa bên thế chấp là ông Phạm Minh C và bên nhận thế chấp là Ngân hàng N, chi nhánh huyện T, Đồng Tháp, Phòng Giao Dịch khu vực I T là hợp pháp.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N về việc yêu cầu công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02112111.111 ngày 22/12/2021 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02112111.109 ngày 22/12/2021.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T2 về việc yêu cầu tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị T2 với ông Nguyễn Thành T1.
Ông Phạm Minh C và ông Nguyễn Thành T1 tiếp tục liên đới chịu lãi của số tiền vay gốc theo mức lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số 02111811.260, ngày 07/11/2018 kể từ ngày 29/6/2024 cho đến khi thi hành xong số nợ gốc cho Ngân hàng N.
Ông Phạm Minh C, bà Phạm Thị Tuyết L và ông Nguyễn Thành Tân t liên đới chịu lãi của số tiền vay gốc theo mức lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số 02.1.6506LAV20210070, ngày 09/11/2021 kể từ ngày 29/6/2024 cho đến khi thi hành xong số nợ gốc trên cho Ngân hàng N.
Ông Phạm Minh C, bà Phạm Thị Tuyết L và ông Nguyễn Thành Tân t liên đới chịu lãi của số tiền vay gốc theo mức lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số 02.1.6506LAV202106950, ngày 24/12/2021 kể từ ngày 29/6/2024 cho đến khi thi hành xong số nợ gốc trên cho Ngân hàng N.
Trường hợp ông Phạm Minh C, bà Phạm Thị Tuyết L và ông Nguyễn Thành T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp, theo hợp đồng thế chấp nêu trên để thi hành án theo quy định.
Trường hợp ông Phạm Minh C, bà Phạm Thị Tuyết L và ông Nguyễn Thành T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp, theo hợp đồng thế chấp nêu trên để thi hành án theo quy định.
Tại phiên toà, đương sự trình bày đã cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ cho Hội đồng xét xử xét, khẳng định không còn tài liệu, chứng cứ nào khác và cam kết lời khai hoàn toàn đúng sự thật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” đối với ông C, bà L, ông T1; bà T2 nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp về việc “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với ông T1. Xét thấy, người khởi kiện có quyền khởi kiện và đã thực hiện đúng về thủ tục khởi kiện theo quy định tại các Điều 186, 188, 189, 190 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông C, bà L địa chỉ: Ấp A, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T1 địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa bị đơn ông C, bà L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T1, bà T2, ông L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, căn cứ vào điểm b, khoản 2, Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp.
[2] Về quan hệ pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, Ngân hàng yêu cầu ông C, bà L và ông T1 phải liên đới trả số tiền vay gốc còn thiếu và tiền lãi và yêu cầu công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, bà T2 yêu cầu ông T1 phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích đất ở tại nông thôn là 36m², thuộc một phần thửa 964, tờ bản đồ số 02 do ông T1 đứng tên, đất tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung tranh chấp:
Xét thấy, Ngân hàng yêu cầu ông C và ông T1 phải liên đới trả số tiền vay gốc 110.000.000đ theo Hợp đồng tín dụng số 02111811.260 ngày 07/11/2018 và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/02/2023 đến ngày 28/6/2024 số tiền là 24.456.164đ; yêu cầu ông C, bà L và ông T1 phải liên đới trả số tiền vay gốc 100.000.000đ theo Hợp đồng tín dụng số 02.1.6506LAV20210070, ngày 09/11/2021 và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/02/2023 đến ngày 28/6/2024 số tiền là 24.461.644đ và yêu cầu ông C, bà L và ông T1 phải liên đới trả số tiền vay gốc 600.000.000đ theo Hợp đồng tín dụng số 02.1.6506LAV202106950, ngày 24/12/2021 và tiền lãi phát sinh từ ngày 25/6/2022 đến ngày 28/6/2024 số tiền là 182.499.315đ và yêu cầu tiếp tục tính lãi từ ngày 29/6/2024 theo từng hợp đồng tín dụng cho đến khi trả xong trả gốc cho Ngân hàng và yêu cầu công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02112111.110 ngày 22/12/2021 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02111811.260 ngày 06/11/2018 hợp pháp là phù hợp nên chấp nhận. Cụ thể:
[3.1] Theo Hợp đồng tín dụng số 02111811.260, ngày vay 07/11/2018, ngày đến hạn 05/11/2023, số tiền vay 260.000.000 đ, thời hạn vay 60 tháng, phân kỳ trả nợ gốc 05 kỳ, nợ lãi 10 kỳ (phát sinh theo dư nợ thực tế), đã trả được nợ gốc 03 kỳ 150.000.000đ và lãi đến ngày 31/01/2023. Phân kỳ kế tiếp là ngày 05/11/2022 phải trả 50.000.000₫ và lãi phát sinh. Hiện còn dư nợ gốc 110.000.000đ. Hợp đồng này chỉ có ông C là người ký bên vay và Ngân hàng là người ký bên cho vay phù hợp quy định của pháp luật. Sau khi vay ông C không thực hiện đúng theo thỏa thuận đã ký kết tại hợp đồng tín dụng nêu trên, bên vay đã quá hạn 02 kỳ nợ gốc từ ngày 05/11/2022, bên vay đã vi phạm hợp đồng về thời gian trả nợ mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở ông C cũng đã nhiều lần cam kết trả nợ nhưng không thực hiện đúng cam kết. Tính đến thời điểm xét xử ông C còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 110.000.000đ và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/02/2023 đến 28/6/2024 là 24.461.644đ nên buộc ông C trả cho Ngân hàng là phù hợp.
[3.2] Theo Hợp đồng tín dụng số 02.1.6506LAV20210070, ngày vay 09/11/2021, ngày đến hạn 09/11/2022, số tiền vay 100.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng. Đã nộp lãi đến ngày 31/01/2023 số tiền là 13.371.780đ. Hiện còn nợ gốc 100.000.000đ. Hợp đồng này chỉ có ông C, bà L là người ký bên vay và Ngân hàng là người ký bên cho vay phù hợp quy định của pháp luật. Sau khi vay ông C, bà L không thực hiện đúng theo thỏa thuận đã ký kết tại hợp đồng tín dụng nêu trên, bên vay đã vi phạm hợp đồng về thời gian trả nợ mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở, ông C, bà L cũng đã nhiều lần cam kết trả nợ nhưng không thực hiện đúng cam kết. Tính đến thời điểm xét xử ông C, bà L còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 100.000.000đ và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/02/2023 đến ngày 28/6/2024 là 24.46.164 nên buộc ông C, bà L liên đới trả cho Ngân hàng là phù hợp.
[3.3] Theo Hợp đồng tín dụng số 02.1.6506LAV202106950, ngày vay 24/12/2021, ngày đến hạn 24/12/2022, số tiền vay 600.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng. Đã nộp lãi đến ngày 24/06/2022 số tiền là 32.945.754đ. Hiện còn dư nợ gốc 600.000.000đ. bên vay đã vi phạm hợp đồng về thời gian trả nợ. Hợp đồng này chỉ có ông C, bà L là người ký bên vay và Ngân hàng là người ký bên cho vay phù hợp quy định của pháp luật. Sau khi vay ông C, bà L không thực hiện đúng theo thỏa thuận đã ký kết tại hợp đồng tín dụng nêu trên, bên vay đã vi phạm hợp đồng về thời gian trả nợ, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở, ông C, bà L cũng đã nhiều lần cam kết trả nợ nhưng không thực hiện đúng cam kết. Tính đến thời điểm xét xử ông C, bà L còn nợ Ngân hàng số tiền gốc là 600.000.000đ và tiền lãi phát sinh từ ngày 25/6/2022 đến ngày 28/6/2024 là 182.499.315đ nên buộc ông C, bà L liên đới trả cho Ngân hàng là phù hợp.
[3.4] Đối với ông T1 trong quá trình giải quyết ông T1 đồng ý trả số tiền gốc và lãi theo từng hợp đồng tín dụng nêu trên theo yêu cầu của Ngân hàng nên buộc ông T1 có trách nhiệm liên đới cùng với ông C và bà L trả gốc và lãi theo từng Hợp đồng tín dụng nêu trên cho Ngân hàng là phù hợp nên chấp nhận.
[3.5] Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02112111.110 ngày 22/12/2021, chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã A số 306, quyển số 01/2021-SCT/HĐ,GD giữa bên thế chấp là hộ ông T1, bà L và bên nhận thế chấp là Ngân hàng N, chi nhánh huyện T, Đồng Tháp, Phòng Giao Dịch khu vực I T. Tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất có diện tích 5.200m² (đo đạc thực 6.508,6m²) thuộc thửa đất số 2476, tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 481646, số vào sổ cấp GCN: CH03189 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 28/12/2016 do hộ ông T1 đứng tên, có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký là ngày 23/12/2021. Hợp đồng này đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, có chữ ký của ông T1 và bà L, nội dung và hình thức hợp đồng thế chấp nêu trên đúng theo quy định của pháp luật tại Điều 500, 501, 502 của Bộ luật dân sự năm 2015. Ngoài ra, theo biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 29/3/2024 thì phần diện tích đất thì ông L1 đang nhận cầm cố, nhưng ông L1 không có yêu cầu gì trong vụ án này nên tài sản thế chấp đất không có tranh chấp nên công nhận là phù hợp.
[3.6] Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02111811.260 ngày 06/11/2018, chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã P số 864, quyển số 01/2018-SCT/HĐ,GD giữa bên thế chấp là ông C và bên nhận thế chấp là Ngân hàng N, chi nhánh huyện T, Đồng Tháp, Phòng Giao Dịch khu vực I T. Tài sản thế chấp gồm: quyền sử dụng đất có diện tích: 381m² (đo đạc thực tế 392,4m²) đất ở nông thôn và tài sản gắn liền với đất gồm Nhà ở diện tích: 99,6 m² thuộc thửa đất số 4374, tờ bản đồ số 6, đất tọa lạc tại xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 856135, số vào sổ cấp GCN: CS 05956 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 26/10/2018 do ông C đứng tên, có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký là ngày 06/11/2018. Hợp đồng này đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, có chữ ký cảu ông T1 và bà L, nội dung và hình thực hợp đồng thế chấp nêu trên đúng theo quy định của pháp luật tại Điều 500, 501, 502 của Bộ luật dân sự năm 2015. Ngoài ra, theo biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 29/3/2024 thì phần diện tích đất và nhà thế chấp nêu trên thì hiện tại ông T1 và bà L đang đang quản lý sử dụng, tài sản không có tranh chấp nên công nhận là phù hợp.
[3.7] Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02112111.111 ngày 22/12/2021 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02112111.109 ngày 22/12/2021. Trong quá trình giải quyết và tại sơ phiên tòa Ngân hàng rút lại yêu cầu khởi kiện nên đình chỉ là phù hợp được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4]. Đối với bà T2 yêu cầu ông T1 phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là làm thủ tục sang tên đối với diện tích đất ở tại nông thôn là 36m², thuộc một phần thửa 964, tờ bản đồ số 02 do ông T1 đứng tên, đất tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Nhưng trong quá trình giải quyết bà T2 rút lại yêu cầu khởi kiện nên đình chỉ là phù hợp được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5]. Đối với diện tích 5.200m² (đo đạc thực 6.508,6m²) thuộc thửa đất số 2476, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 481646, số vào sổ cấp GCN: CH03189 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 28/12/2016 do hộ ông T1 đứng tên thì ông L1 đang nhận cầm cố, nhưng ông L1 không có yêu cầu gì trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp sẽ được xem xét giải quyết bằng vụ án khác.
[6] Về chi phí tố tụng khác: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên đối với chi phí xem xét thẩm định tại chổ theo “Hóa đơn bán hàng số 00000370, ngày 18/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ” số tiền là 10.396.000đ và chi phí hỗ trợ đo đạc cho công chức địa chính xã P và xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp số tiền 400.000đ (số tiền này Ngân hàng đã nộp tạm ứng xong) nên buộc ông C, bà L, ông T1 liên đới trả lại cho Ngân hàng là phù hợp theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7] Từ những phân tích trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng đối với ông C, bà L và ông T1 là phù hợp.
[8] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- [9.1] Ông C và ông T1 phải liên đới nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận là: 134.461.644đ x 5% = 6.723.000đ.
- [9.2] Ông C, bà L và ông T1 phải liên đới nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận là: 782.499.315đ + 124.456.164đ = 906.955.479đ = [(800.000.000đ tương đương số tiền 36.000.000₫) + 106.955.479₫ x 3% = 3.208.000₫] và phải chịu 300.000đ tiền án phí đối với yêu cầu công nhận hợp đồng của Ngân hàng được chấp nhận. Tổng cộng: 39.508.000₫
- [9.3] Ngân hàng không phải nộp tiền án phí, được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 20.175.000đ theo biên lai thu số: 0001286, ngày 27/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- [9.4] Bà T2 rút lại đơn khởi kiện nên không phải nộp tiền án phí, được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000đ theo biên lai thu số: 0005820 ngày 14/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
Vì các lẻ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 158, điểm c khoản 1 Điều 217, điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, 238, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Các Điều 288, 299, 317, 318, 319, 320, 323, 463, 466, 468, 470, 500, 501, 502 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Các Điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.
- - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng N đối với ông Phạm Minh C, bà Phạm Thị Tuyết L và ông ông Nguyễn Thành T1.
- Buộc ông Phạm Minh C và ông Nguyễn Thành T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N số tiền vay gốc còn thiếu là 110.000.000đ (Một trăm mười triệu đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/02/2023 đến ngày 28/6/2024 là 24.461.644đ (Hai mươi bốn triệu, bốn trăm sáu mươi một nghìn, sáu trăm bốn mươi bốn đồng). Tổng cộng gốc và lãi là: 134.461.644đ (Một trăm ba mươi bốn triệu, bốn trăm sáu mươi một nghìn, sáu trăm bốn mươi bốn đồng).
- Buộc ông Phạm Minh C, bà Phạm Thị Tuyết L và ông Nguyễn Thành T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N số tiền vay gốc còn thiếu là 100.000.000₫ (Một trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/02/2023 đến ngày 28/6/2024 là 24.466.164₫ (Hai mươi bốn triệu, bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng, một trăm sáu mươi bốn đồng). Tổng cộng gốc và lãi là: 124.456.164đ (Một trăm hai mươi bốn triệu, bốn trăm năm mươi sáu nghìn, một trăm sáu mươi bốn đồng).
- Buộc ông Phạm Minh C, bà Phạm Thị Tuyết L và ông Nguyễn Thành T1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng N số tiền vay gốc còn thiếu là 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 25/6/2022 đến ngày 28/6/2024 là 182.499.315đ (Một trăm tám mươi hai triệu, bốn trăm chín mươi chín nghìn, ba trăm mười lăm đồng). Tổng cộng gốc và lãi là: 782.499.315₫ (Bảy trăm tám mươi hai triệu, bốn trăm chín mươi chín nghìn, ba trăm mười lăm đồng).
- Công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02112111.110 ngày 22/12/2021 giữa bên thế chấp là hộ ông Nguyễn Thành T1, bà Phạm Thị Tuyết L và bên nhận thế chấp là Ngân hàng N, chi nhánh huyện T, Đồng Tháp, Phòng Giao Dịch khu vực I T là hợp pháp.
- Công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02111811.260 ngày 06/11/2018 giữa bên thế chấp là ông Phạm Minh C và bên nhận thế chấp là Ngân hàng N, chi nhánh huyện T, Đồng Tháp, Phòng Giao Dịch khu vực I T là hợp pháp.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N về việc yêu cầu công nhận Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02112111.111 ngày 22/12/2021 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 02112111.109 ngày 22/12/2021.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T2 về việc yêu cầu tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị T2 với ông Nguyễn Thành T1.
- Về chi phí tố tụng khác: Áp dụng khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Phạm Minh C và ông Nguyễn Thành T1 phải liên đới nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm số tiền là: 6.723.000đ (Sáu triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn đồng).
- Ông Phạm Minh C, bà Phạm Thị Tuyết L và ông Nguyễn Thành T1 phải liên đới nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 39.508.000đ (ba mươi chín triệu, năm trăm lẻ tám nghìn đồng).
- Ngân hàng N không phải nộp tiền án phí, được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 20.175.000₫ (Hai mươi triệu, một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0001286 ngày 27/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Bà Nguyễn Thị T2 không phải nộp tiền án phí, được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0005820 ngày 14/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
Ông Phạm Minh C và ông Nguyễn Thành T1 tiếp tục liên đới chịu lãi của số tiền vay gốc theo mức lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số 02111811.260, ngày 07/11/2018 kể từ ngày 29/6/2024 cho đến khi thi hành xong số nợ gốc cho Ngân hàng N.
Ông Phạm Minh C, bà Phạm Thị Tuyết L và ông Nguyễn Thành T1 tiếp tục liên đới chịu lãi của số tiền vay gốc theo mức lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số 02.1.6506LAV20210070, ngày 09/11/2021 kể từ ngày 29/6/2024 cho đến khi thi hành xong số nợ gốc trên cho Ngân hàng N.
Ông Phạm Minh C, bà Phạm Thị Tuyết L và ông Nguyễn Thành T1 tiếp tục liên đới chịu lãi của số tiền vay gốc theo mức lãi suất theo Hợp đồng tín dụng số 02.1.6506LAV202106950, ngày 24/12/2021 kể từ ngày 29/6/2024 cho đến khi thi hành xong số nợ gốc trên cho Ngân hàng N.
Trường hợp ông Phạm Minh C, bà Phạm Thị Tuyết L và ông Nguyễn Thành T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp, theo hợp đồng thế chấp nêu trên để thi hành án theo quy định.
Trường hợp ông Phạm Minh C, bà Phạm Thị Tuyết L và ông Nguyễn Thành T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp, theo hợp đồng thế chấp nêu trên để thi hành án theo quy định.
Buộc ông Phạm Minh C, bà Phạm Thị Tuyết L và ông Nguyễn Thành T1 có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng N chi phí xem xét thẩm định tại chổ theo “Hóa đơn bán hàng số 00000370, ngày 18/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ” số tiền là 10.396.000đ (Mười triệu, ba trăm chín mươi sáu nghìn đồng) và chi phí hỗ trợ đo đạc cho công chức địa chính xã P và xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp số tiền 400.000₫ (Bốn trăm nghìn đồng). Tổng cộng: 10.796.000đ (Mười triệu, bảy trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, người yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hùng Cường |
Bản án số 19/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 19/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
