|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST Ngày 27 tháng 8 năm 2024 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán: Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Việt Giang.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Hoàng Tuấn.
2. Bà Nguyễn Thị Hoa.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Phú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phan Thị T, sinh năm 1983; (Có mặt)
Nơi cư trú: Khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Vũ H, sinh năm 1980. (Có mặt)
Nơi cư trú: Khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Phan Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị T và anh Nguyễn Vũ H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 16/12/2004 tại UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Thời gian đầu hai bên chung sống hoà thuận, đến tháng 7 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm và không quan tâm đến nhau nên cuộc sống chung không có hạnh phúc, từ tháng 05/2024 chị và anh H đã sống ly thân. Nay chị T xác định tình cảm không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.
Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Vũ H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh H xác định thời gian và địa điểm đăng ký kết hôn và quá trình chung sống như chị T trình bày là đúng. Quá trình chung sống anh thừa nhận vợ chồng có những mâu thuẫn nhỏ, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng có cãi nhau, đánh nhau như chị T trình bày tại phiên tòa là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ anh không thường xuyên chăm sóc nhà cửa, chăm sóc gia đình. Thường xuyên đi làm về muộn, đi liên hoan không thông báo trước cho anh. Nên anh nghĩ vợ anh bị ảnh hưởng bởi những người bạn này. Thường xuyên, tụ tập với bạn bè, với những người bạn đã ly hôn nên chị làm đơn ly hôn anh. Anh và gia đình đã nhắc nhở nhiều nhưng chị không tiếp thu dẫn đến mâu thuẫn cãi vã. Ngoài ra, anh nghi ngờ vợ anh có quan hệ ngoài luồng nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cãi cọ nhau. Nay chị T xin ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn vì không muốn để lại hậu quả không tốt đến tương lai của các con. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn nên anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con chung.
Về con chung: Chị Phan Thị T và anh Nguyễn Vũ H đều xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Phan Hải Đ, sinh ngày 30/7/2005 và cháu Nguyễn Phan Bảo N, sinh ngày 19/01/2015. Hiện nay cháu Nguyễn Phan Hải Đ đã thành niên nên chị T và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Quan điểm của chị T khi ly hôn: Chị T xin nuôi cháu Nguyễn Phan Bảo N cho đến khi con chung thành niên có khả năng lao động tự túc được. Chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Thu nhập bình quân là 14.000.000đ/tháng.
+ Quan điểm của anh H: Tại phiên tòa, anh H không đồng ý ly hôn nên anh không trình bày quan điểm về con chung. Tại lời khai và biên bản hòa giải anh H đề nghị, trường hợp ly hôn đặt ra, anh xin được trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Phan Bảo N, sinh ngày 09/01/2015. Anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.
Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Chị Phan Thị T và anh Nguyễn Vũ H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh:
Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phan Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Vũ H.
- Về con chung: Cháu Nguyễn Phan Hải Đ, sinh ngày 30/7/2005 đã thành niên và lao động tự túc được, chị T và anh H không đề nghị Toà án giải quyết vì vậy không xem xét giải quyết.
Giao cho chị Phan Thị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Nguyễn Phan Bảo N, sinh ngày 09/01/2015 cho đến khi cháu Ngọc thành N1, lao động tự túc được. Anh Nguyễn Vũ H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T vì chị T tự nguyện không yêu cầu.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Phan Thị T và anh Nguyễn Vũ H không yêu cầu tòa án giải quyết, vì vậy không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Phan Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trên cơ sở xem xét ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Phan Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc xin ly hôn với anh Nguyễn Vũ H, nơi cư trú: Khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, xác định đây là tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Phan Thị T và anh Nguyễn Vũ H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 16/12/2004 tại UBND thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên đơn chị T trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Bị đơn anh H cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn như chị T trình bày là đúng, vợ chồng mâu thuẫn là do chị T không chăm sóc nhà cửa, không chăm sóc gia đình. Thường xuyên đi làm về muộn, đi liên hoan không thông báo trước cho anh. Hay tụ tập với bạn bè, với những người bạn đã ly hôn nên chị làm đơn ly hôn anh. Anh và gia đình đã nhắc nhở nhiều nhưng chị không tiếp thu dẫn đến mâu thuẫn cãi vã. Ngoài ra, anh nghi ngờ vợ anh có quan hệ ngoài luồng nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Qua xác minh tại khu dân cư và chính quyền địa phương cung cấp: Về nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể của vợ chồng anh chị thì đại diện chính quyền địa phương không nắm rõ, nhưng được biết anh chị đã sống ly thân nhau 1 thời gian. Nay chị T khởi kiện xin ly hôn thì quan điểm của UBND thị trấn P đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tại lời khai của bà Nguyễn Thị L là mẹ đẻ của anh Nguyễn Vũ H, bà cho biết anh H hiện đang ở cùng bà tại khu Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, hàng ngày anh H đi làm việc và tối anh mới có mặt ở nhà. Về mâu thuẫn của vợ chồng anh chị bà xác định anh chị có mâu thuẫn nhưng là mâu thuẫn nhỏ, từ tháng 5/2024 chị T đã xin phép bà ra ngoài ở và anh chị sống ly thân nhau từ đó đến nay. Chị T xin ly hôn anh H, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị T và anh H có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân một thời gian, hai vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Như vậy tình trạng hôn nhân của chị T và anh H đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục, đời sống chung thực tế đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Phan Thị T và anh Nguyễn Vũ H đều xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Phan Hải Đ, sinh ngày 30/7/2005 và cháu Nguyễn Phan Bảo N, sinh ngày 09/01/2015. Hiện nay cháu Đ đã thành niên và lao động tự túc được nên chị T, anh H không đề nghị Toà án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với cháu Nguyễn Phan Bảo N khi ly hôn chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tại phiên tòa anh H không trình bày quan điểm gì, nhưng tại các lời khai và biên bản hòa giải anh đề nghị, trường hợp ly hôn đặt ra, anh xin được trực tiếp nuôi con chung là cháu Nguyễn Phan Bảo N, sinh ngày 09/01/2015. Anh không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh. Xét thấy chị T và anh H đều có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Phan Bảo N. Tuy nhiên cháu N là con gái đang độ tuổi trưởng thành cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ và nguyện vọng của cháu N xin ở với chị T. Do đó, để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho con chưa thành niên phát triển toàn diện vì vậy cần giao cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu N đến khi cháu Ngọc thành N1, có khả năng lao động tự túc được là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, do chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T. Anh H được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung; Về công nợ; Về công sức đóng góp: Chị Phan Thị T và anh Nguyễn Vũ H không yêu cầu tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Phan Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Xét thấy quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh là phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị T.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phan Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Vũ H.
Về con chung: Chị Phan Thị T và anh Nguyễn Vũ H đều xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Phan Hải Đ, sinh ngày 30/7/2005 và cháu Nguyễn Phan Bảo N, sinh ngày 09/01/2015. Cháu Nguyễn Phan Hải Đ, sinh ngày 30/7/2005 đã thành niên và lao động tự túc được, chị T và anh H không đề nghị Toà án giải quyết vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Giao cho chị Phan Thị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Phan Bảo N, sinh ngày 09/01/2015 cho đến khi cháu Ngọc thành N1, lao động tự túc được. Anh Nguyễn Vũ H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T vì chị T tự nguyện không yêu cầu.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Phan Thị T và anh Nguyễn Vũ H không yêu cầu tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Phan Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001226 ngày 24/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh. Chị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Việt Giang |
Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
