Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠC THỦY

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 26/9/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Vũ Hải Dương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Khánh; Ông Bùi Hữu Thành.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Đỗ Thị Thanh Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệp, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) huyện L, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 34/2024/TLST- HNGĐ ngày 30/5/2024, về tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa, giữa:

Nguyên đơn: chị Quách Thị H, sinh năm 1981. (Vắng mặt - Có đơn xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

Bị đơn: anh Bùi Trọng K, sinh năm 1983. (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

Người làm chứng:

  • + Bà Bùi Thị A, sinh năm 1957; bà Bùi Thị V, sinh năm 1956; anh Bùi Văn K1, sinh năm 1984. (Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Quách Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị Quách Thị H kết hôn với anh Bùi Trọng K ngày 18/6/2003; hai bên kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân (UBND) xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống hạnh phúc được khoảng 10 năm thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống trong xây dựng kinh tế gia đình, vợ chồng thường xuyên có nhiều va chạm, xung đột về tình cảm gia đình. Khi mâu thuẫn xảy ra hai vợ chồng có tự hòa giải nhiều lần nhưng không giải quyết được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, đỉnh điểm vào năm 2013 hai vợ chồng đã không chung sống cùng nhau và sống ly thân từ đó đến nay. Từ khi sống ly thân hai vợ chồng không còn tình cảm và quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đã làm đơn khởi kiện xin ly hôn và có thông báo cho K về nội dung đơn ly hôn nhưng anh K không có ý kiến gì. Chị có hỏi địa chỉ nhưng anh K cố tình không cung cấp địa chỉ, không cho gia đình biết anh đang làm gì, ở đâu. Chị H đã gửi đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Trọng K.

Về con chung: Chị H khai trong quá trình chung sống chị và anh K có một con chung là cháu Bùi Ngọc N, sinh năm 2004. Cháu N đã trưởng thành và có gia đình riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện Lạc Thủy đã căn cứ theo quy định của pháp luật tiến hành tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án để thông báo cho anh K thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình, nhưng anh K không đến Tòa án để trình bày ý kiến và tham gia tố tụng.

Trong quá trình thu tập tài liệu, chứng cứ và lấy lời khai của người làm chứng đều xác nhận: Anh K đã không cùng chị H chung sống từ năm 2013 đến nay. Anh K cũng chỉ liên lạc về cho con gái là cháu N qua mạng xã hội mà không thông tin cho gia đình biết anh K đang ở đâu, làm gì. Trong khi gia đình có việc tổ chức cưới hỏi cho con gái, anh K cũng không về và cũng không hỏi thăm, hỗ trợ gì cho chị H.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Thủy phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử nghị án: Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký tòa án đã tuân thủ đúng theo Bộ luật tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt anh Bùi Trọng K đã được Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ theo đúng quy định BLTTDS.

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Quách Thị H.

Về con chung: chị H xác nhận anh chị có 01 con chung là cháu Bùi Ngọc N, sinh năm 2004 đã trưởng thành, chị H không yêu cầu pháp luật giải quyết nên không đề cập.

Về tài sản chung, công nợ chung: chị H không yêu cầu pháp luật giải quyết, nên không đề cập.

Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị HĐXX tuyên theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; HĐXX nhận định:

[1] Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Bị đơn anh Bùi Trọng K, có hộ khẩu thường trú tại thôn R, xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Chị H có yêu cầu khởi kiện tranh chấp hôn nhân gia đình. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS thì đây là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình.

[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: bị đơn anh Bùi Trọng K đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ; tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng vắng mặt; căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 229 BLTTDS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[3] Về nội dung vụ án:

  • * Về quan hệ hôn nhân: Ngày 18/6/2003 chị Quách Thị H và anh Bùi Trọng K kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện L, tỉnh Hòa Bình; đây là hôn nhân hợp pháp, tiến bộ.

    Trong quá trình vợ chồng chung sống đã nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống trong xây dựng kinh tế gia đình. Khi mâu thuẫn xảy ra anh K đã bỏ đi làm ăn xa và sống ly thân với chị H từ năm 2013 đến nay. Do anh K dấu địa chỉ nên chị H không biết hiện tại anh K đang làm gì, ở đâu. Anh K chỉ liên lạc qua mạng xã hội với con gái. Đến nay chị H thấy không còn tình cảm với anh K nên làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với anh K.

    Từ những tình tiết, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, HĐXX xét thấy hôn nhân giữa chị Quách Thị H và anh Bùi Trọng K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Quách Thị H được ly hôn với anh Bùi Trọng K.

  • * Về con chung: Trong quá trình chung sống theo xác nhận của chị H anh chị có một con chung là cháu Bùi Ngọc N, sinh năm 2004. Cháu N đã trưởng thành, chị H không yêu cầu pháp luật giải quyết nên HĐXX không đề cập.

  • * Về tài sản chung, công nợ chung: chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không đề cập.

[4] Về án phí: chị Quách Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 229, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

- Tuyên xử:

  • + Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Quách Thị H. Chị Quách Thị H được ly hôn với anh Bùi Trọng K.

  • + Về con chung: Cháu N đã trưởng thành, chị H không yêu cầu pháp luật giải quyết nên không giải quyết.

  • + Về án phí: chị Quách Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001919 ngày 30/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Thủy. Chị H đã nộp đủ án phí.

  • - Về quyền kháng cáo: Chị Quách Thị H và anh Bùi Trọng K vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Lạc Thủy;
  • - Chi cục thi hành án DS huyện Lạc Thủy;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Phú Thành;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(ĐÃ KÝ)

Vũ Hải Dương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HNGĐ - ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 19/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị H ly hôn anh Kh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger