Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUYÊN HẢI

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày 26-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tài

Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nước

Ông Hà Văn Quen

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chăm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Khoa - Kiểm sát viên.

- Người tiến hành tố tụng: Ông Dương Công Đ - Đội trưởng Đội thi hành án hình sự và Hỗ trợ tư pháp - Công an thị xã D, là người hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần.

Trong các ngày 24, 26 tháng 4 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải và điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã D, đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 15/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn C. Sinh ngày 01/01/1989 tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp A, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1962; Vợ: Nguyễn Bảo T, sinh năm 1995 và một người con; Tiền án, tiền sự: Không có;

Nhân thân:

- Ngày 16/7/2010 có hành vi uống rượu say gây mất trật tự công cộng, bị Ủy ban nhân dân tỉnh T đưa vào cơ sở giáo dục với thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 2098/QĐ-UBND ngày 26/11/2010;

- Ngày 14/5/2013 có hành vi thường xuyên đánh nhau, bị Ủy ban nhân dân tỉnh T đưa vào cơ sở giáo dục với thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 2431/QĐ-UBND ngày 26/12/2013.

Bị bắt tạm giam từ ngày 27/01/2024 đến nay;

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Thanh T1. Sinh ngày 20/9/1995 tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn D, sinh năm 1965 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971; Vợ: Phạm Thị L, sinh năm 1999; Con: có 02 người, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không có;

Nhân thân:

- Ngày 07/3/2011 có hành vi đánh người và đập phá tài sản, bị Ủy ban nhân dân huyện D đưa vào trường G thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 1584/QĐ-UBND ngày 13/4/2011;

- Ngày 06/11/2021 có hành vi cố ý gây thương tích, bị Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xử phạt tù có thời hạn 03 năm 06 tháng theo Bản án số 13/2022/HSST ngày 10/5/2022, hiện nay đang chấp hành án tại Trại giam B2, Bộ C5.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

3. Nguyễn Văn N. Sinh ngày 01/01/1995 tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Ấp L, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam: Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1963 và bà Trần Thị L1, sinh năm 1971; Vợ: Hà Thị Mỹ N1 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không có;

Nhân thân:

- Ngày 08/01/2013 có hành vi gây rối trật tự công cộng, bị Ủy ban nhân dân tỉnh T đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 18 tháng, theo Quyết định số 881/QĐ-UBND ngày 08/5/2013;

- Ngày 25/4/2017 có hành vi giao cấu với trẻ em, bị Tòa án nhân dân huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh xử phạt tù có thời hạn 02 năm theo Bản án số 24/2017/HSST ngày 10/8/2017;

- Ngày 30/4/2017 có hành vi cố ý gây thương tích, bị Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xử phạt tù có thời hạn 01 năm theo Bản án số 23/2017/HSST ngày 17/8/2017;

- Ngày 21/11/2022 có hành vi có ý gây thương tích, bị Công an huyện D, tỉnh Trà Vinh xử phạt hành chính với số tiền 6.500.000 đồng, theo Quyết định số 17 ngày 28/02/2023.

Bị bắt tạm giam từ ngày 27/01/2024 đến nay;

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C: Ông Nguyễn Văn T2 - Luật sư của Công ty L4, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Bị hại: Anh Mai Thanh Q, sinh năm 1996. Nơi cư trú: Khóm A, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại Cáo trạng số 30/CT-VKS-HS ngày 14/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn NNguyễn Thanh T1 tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, hành vi phạm tội của các bị cáo được Cáo trạng mô tả như sau:

Vào khoảng 19 giờ ngày 21/02/2016, bị cáo Nguyễn Văn NNguyễn Thanh T1 cùng uống rượu bia tại nhà của bị cáo Nguyễn Văn C thì N nhận được cuộc gọi của một người tên L2 rủ đi chém lộn. Lúc nghe điện thoại thì N mở loa lớn cho C và T1 cùng nghe. Khi nghe L2 rủ đi chém lộn thì N đồng ý rồi rủ T1 và C cùng đi thì T1, C đồng ý. N đi ra nhà sau của C lấy 03 cây dao để vào bao quấn lại rồi ngồi lên xe mô tô biển số 84F1-130.92 do bị cáo C điều khiển chở N ngồi giữa ôm hung khí và T1 ngồi sau cùng để đi chém nhau với nhóm của L2. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi chạy đến quán T7 thuộc ấp A, xã L thì C đậu xe trước cửa quán, N lấy bao đựng hung khí ra rồi Chơn rút cây dao (kiếm) đi vào trong quán trước, N cầm một cây dao đi giữa và T1 cầm một cây dao cùng đi vào quán. Lúc này, trong quán T7, nhóm của Mai Tấn L3 gồm có L3, Mai Thanh Q, sinh năm 1996; Trương Minh T3, sinh năm 1995, Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1987, Nguyễn Hồng T5, H1, C2 và C3 (không rõ nhân thân). Khi nhóm của L3 nhìn thấy C cầm dao đi vào thì nhóm của L3 bỏ chạy ra khỏi hàng rào. Trong lúc bỏ chạy, Mai Thanh Q leo qua hàng rào thì bị té ngã, Khi Q vừa đứng lên thì C đi tới cầm dao trên tay phải chém 01 cái theo hướng từ trên xuống, Q đưa tay trái lên đỡ nên bị trúng vào tay trái gây thương tích rồi Chơn bỏ đi. Tiếp đó, N và T1 đi đến, N cầm dao trên tay trái chém 01 cái theo hướng từ trên xuống, Q đưa tay phải lên đỡ, T1 cũng dùng dao tiếp tục chém 01 cái theo hướng từ trên xuống trúng vào tay phải của Q gây thương tích. Sau khi chém xong thì N và T1 cùng ra xe, C điều khiển xe chở N và T1 về nhà. Còn Q được mọi người đưa đi cấp cứu. Sau khi sự việc xảy ra, N, T1 và C đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền là 30.000.000 đồng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 75 ngày 27/6/2016 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận tỉ lệ thương tật của Mai Thanh Q như sau: 01 sẹo cẳng tay trái, tỉ lệ 8%; đứt gân cơ duỗi ngón 3,4,5 đã khâu nối, ảnh hưởng đến động tác gấp duỗi ngón tay mức độ ít, tỉ lệ 3%; 01 sẹo cánh tay phải, tỉ lệ 1%; 01 sẹo cẳng tay phải, tỉ lệ 01%; 01 sẹo bàn tay phải, tỉ lệ 01%. Cơ chế hình thành vết thương là do ngoại lực tác động trực tiếp, vật gây ra thương tích là vật cứng có cạnh sắc, hướng từ trên xuống.

* Diễn biến tại phiên tòa:

- Bị hại Mai Thanh Q khai tại quán T7 đã bị 03 người chém gây thương tích trong đó có chú T6 tức là bị cáo Nguyễn Văn C, giữa bị hại và 03 bị cáo cũng không có mâu thuẫn gì. Sau khi bị chém thì anh Q đã nhận 30.000.000 đồng tiền bồi thường từ 03 bị cáo nên không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự. Về trách nhiệm hình sự, anh Q xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho cả 03 bị cáo.

- Bị cáo Nguyễn Văn N thừa nhận đã có hành vi chém một nhát trúng vào tay phải của Q, bị cáo cũng thừa nhận lời khai ban đầu của bị cáo vào ngày 26/9/2016 là đúng sự thật và khách quan, tại phiên tòa hôm nay bị cáo khẳng định cả 03 bị cáo đã gây ra thương tích cho bị hại Mai Thanh Q. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo thừa nhận đã cùng với bị cáo T1 và bị cáo N mỗi người đã bồi thường cho Q 10.000.000 đồng. Tại lời nói sau cùng bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

- Bị cáo Nguyễn Thanh T1 thừa nhận cùng với bị cáo C và bị cáo N cùng nhau đi đến quán T7 để chém lộn, tại quán bị cáo đã có hành vi chém một nhát trúng tay phải của anh Mai Thanh Q, sau khi được Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai ban đầu của bị cáo vào ngày 26/9/2016 thì bị cáo thừa nhận lời khai này là đúng sự thật và khách quan, còn những lời khai sau đó là do bị cáo sợ nên đã khai không đúng. Việc bị cáo không thừa nhận hành vi chém Q khi được lấy lời khai trong Trại giam B2 là vì bị cáo sợ tội chồng thêm tội, sợ phải chấp hành thêm hình phạt vì bị cáo cũng sắp mãn hạn tù. Nay bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo được sớm trở về với gia đình.

- Bị cáo Nguyễn Văn C: Quá trình xét hỏi, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của bị cáo N, bị cáo T1, anh Mai Hồng C4 (con ông Bảy Đ1) và bị cáo C cũng đã nghe lời khai của bị hại Q tại phiên tòa. Tuy nhiên bị cáo cho rằng lời khai của bị cáo T1, N; bị hại Mai Thanh Q và lời khai của anh Mai Hồng C4 là không đúng sự thật, bị cáo khi đi vào đến quán thì nhóm của L3 đã chạy chỉ còn lại anh Mai Hồng C4 thì anh C4 rủ bị cáo nhậu, bị cáo không nhậu và đi trở ra, bị cáo không có chém anh Mai Thanh Q. Bị cáo đề nghị Tòa án triệu tập anh Mai Hồng C4 và bạn gái của anh C4 là chị T vì hai người này thấy bị cáo đi ra ngoài chứ không có rượt nhóm của L3 là phía sau quán. Bị cáo thừa nhận có cùng với N và T1 đem theo hung khí để tìm chém nhóm của L3, bị cáo cũng thừa nhận là người đã điều khiển xe chở T1 và N nên bị cáo sẽ chịu trách nhiệm hình sự chung với T1 và N, Cáo trạng truy tố bị cáo tội cố ý gây thương tích là không oan không sai, nhưng bị cáo vẫn không thừa nhận là có chém Quí. Tại lời nói sau cùng, bị cáo C mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình, để chăm sóc mẹ già và con nhỏ.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và gửi bản luận cứ bào chữa với quan điểm như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn C bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải truy tố theo điểm đ, khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự do sử dụng hung khí nguy hiểm gây thương tích 13% cho bị hại. Xét tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo và mức độ tổn hại sức khoẻ của bị hại, người bào chữa không có ý kiến về mặt tội danh của bị cáo. Về hình phạt, tại Kết luận điều tra và Cáo trạng đã ghi nhận, áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, khoản 1, khoản 2 Điều 51 với các tình tiết tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, dù lời khai của bị cáo có mâu thuẫn với lời khai bị hại về việc có hay không có việc bị cáo C chém bị hại Quí, tuy nhiên, lời khai của bị cáo là thống nhất ngay từ thời điểm xảy ra vụ án đến khi bị khởi tố bị can và tạm giam. Đồng thời lời khai của hai bị cáo T1 và N cũng xác định bị cáo không trực tiếp chém anh Q. Nhiều người chứng kiến sự việc xác định không rõ bị cáo có chém anh Q hay không. Bản thân bị cáo xác định có cùng T1, N đi đánh nhau với nhóm L3, trong đó có anh Q, bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại. Thực tế bị cáo không chối tội mà thừa nhận hành vi phạm tội của mình và thể hiện rõ sự ăn năn hối cải. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51. Mặt khác, xét điều kiện, hoàn cảnh gia đình các bị cáo đều rất khó khăn, bị cáo C có mẹ già, con nhỏ; là lao động chính trong gia đình, gánh nặng kinh tế gia đình đều đặt lên vai bị cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm b, s, khoản 1, 2; Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo được sớm ngày trở về với gia đình, xã hội, thể hiện sự nghiêm minh nhưng nhân đạo của pháp luật.

- Kiểm sát viên trình bày quan điểm luận tội đối với các bị cáo như sau:

Trong vụ án này, bị cáo N là người trực tiếp nghe điện thoại rồi rủ C và T1 cùng đi, là người trực tiếp chém trúng vào người bị hại 01 cái; C là người trực tiếp điều khiển xe chở N và T1 đến hiện trường, là người cầm hung khí đi trước chém bị hại 01 cái rồi tiếp tục điều khiển xe chở N và T1 rời khỏi hiện trường; T1 là người trực tiếp chém trúng vào người bị hại 01 cái gây thương tích. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay đã chứng minh thương tích của bị hại là do ba bị cáo thống nhất gây ra, không còn đối tượng khác gây thương tích cho bị hại. Các bị cáo là những người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính, hoặc đã và đang chấp hành án, không biết sửa lỗi, làm lại cuộc đời mà vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên sau khi sự việc xảy ra N, T1 và C đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền là 30.000.000 đồng. Nghị đã thành khẩn khai báo về hành vi đã thực hiện, bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi cha mẹ già và con nhỏ, gia đình bị cáo N và C có người thân tham gia cách mạng được nhà nước ghi nhận công lao, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

Trên cơ sở đánh giá toàn bộ chứng cứ của vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa ngày hôm nay, xét thấy hành vi của hai bị cáo C, T1 và N đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn C mức hình phạt tù, từ 03 năm đến 3 năm 06 tháng.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 mức hình phạt tù từ 02 năm 08 tháng đến 03 năm 02 tháng; tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn N mức hình phạt tù từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 03 cây dao mà các bị cáo đã dùng để gây thương tích cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa sơ thẩm cả 03 bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn NNguyễn Thanh T1 đều thừa nhận Cáo trạng số 30/CT-VKS-HS ngày 14/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải truy tố các bị cáo tội cố ý gây thương tích là đúng tội. Bị cáo T1 và bị cáo N thừa nhận đã có hành vi chém trúng tay phải của anh Mai Thanh Q như Cáo trạng mô tả. Đối với bị cáo C cho rằng bị cáo không có chém trúng tay trái của anh Q, tuy nhiên qua diễn biến tại phiên tòa cũng như các tài liệu, chứng cứ khác trong vụ án thể hiện:

[2] Lời khai ban đầu vào ngày 29/02/2016 của bị hại Mai Thanh Q (bút lục số 64) thể hiện: “...Trong lúc uống rượu thì T1 (C), N và chú T6 (bị cáo C) đi cùng một số thanh niên lạ mặt, thấy N cầm dao, chú T6 cầm kiếm, T1 cầm dao, thấy vậy chúng tôi bỏ chạy, tôi chạy thẳng ra phía sau leo lên hàng rào thì bị té xuống, khi tôi đứng lên thì thấy chú T6 (bị cáo C) chạy đến đứng cách tôi khoảng 01 mét, mặt đối mặt với tôi, cầm cây kiếm đã bỏ vỏ chém từ trên xuống nên tôi đưa tay trái lên đỡ thì bị thương, khi chú T6 vừa đi, tôi đứng lên dùng tay phải đỡ tay trái thì N và T1 chạy đến cầm dao chém nên tôi đưa tay phải lên đỡ...”. Tại phiên tòa bị hại Q vẫn khẳng định đã bị bị cáo C chém trước trúng vào tay trái, sau đó Q dùng tay phải để đỡ tay trái lên thì tiếp tục bị N và T1 chém.

[3] Lời khai của bị cáo Nguyễn Thanh T1 vào ngày 26/9/2016 (bút lục số 42) thể hiện: “...thấy nhóm của L3 nhậu trong quán của chú Út B1...anh C dừng xe, N đưa bao đựng hung khí ra, anh C lấy trước cây kiếm (kiếm N), tôi và N mỗi người cầm 01 cây dao, khi đến gần thì nhóm của L3 bỏ chạy, tôi và C, N đuổi theo ra phía sau thì thấy 01 người trong nhóm của L3 chạy vào đường cùng nên anh C đi vào dùng kiếm chém người đó, tôi thấy người đó đưa tay lên đỡ....sau đó tôi cũng vào chém người đó, thấy người đó đưa tay phải lên đỡ, tôi chém xong thì cũng đến lượt N cầm dao chém, chém xong thì nhóm chúng tôi ra về...”. Tại phiên tòa bị cáo T1 thừa nhận quá trình điều tra bị cáo nhiều lần thay đổi lời khai là do sợ và có người tác động, nay bị cáo khẳng định lời khai ban đầu của bị cáo là đúng sự thật, bị hại Mai Thanh Q là do cả 03 bị cáo cùng chém.

[4] Lời khai của bị cáo Nguyễn Văn N vào ngày 26/9/2016 (bút lục số 52) thể hiện: “...Khi đến quán, anh C cầm mã tấu, tôi và T1 cầm dao, anh C đi trước, tôi đi sau anh C, T1 cũng đi sau tôi, khi anh C cách nhóm của L3 khoảng 02 - 03 mét thì nhóm của L3 tràn ra bỏ chạy, anh C cầm dao tay nào tôi không rõ nhưng tôi thấy anh C cầm dao chém trúng tay của Q, sau đó anh C đi ra...tôi cầm dao chém trúng tay phải của Q, T1 đứng song song với tôi cũng chém trúng Quí 01 cái trúng tay phải. Sau đó anh C nói nghỉ ra về được rồi, anh C điều khiển chở 03 người về nhà, sáng hôm sau tôi bỏ trốn lên Thành phố Hồ Chí Minh...”. Tại phiên tòa bị cáo N cũng khẳng định lời khai ban đầu của bị cáo là đúng sự thật, khách quan, bị cáo khẳng định bị hại Quí là do cả 03 bị cáo cùng chém.

[5] Lời khai của anh Mai Hồng C4 (con ông Bảy Đ1) thể hiện: “...Chúng tôi đang ngồi ngồi thì bất ngờ trong bàn nhìn thấy 03 người. Tôi thấy C một tay cầm kiếm, còn một tay cầm vỏ; N và T1 cũng cầm hung khí...khi 03 người lấy hung khí ra cách bàn nhậu khoảng 10m thì mọi người trong bàn bỏ chạy ra phía sau quán, chỉ còn lại tôi với T. Lúc này C, N và T1 cầm hung khí rượt theo ra phía sau, vài phút sau tôi thấy C, N và Tuấn đi t ra và lên xe rời khỏi hiện trường...tôi thấy Q bị thương ở tay chảy máu rất nhiều, thấy vậy tôi và T lấy xe chở Q đi cấp cứu ở Bệnh viện D1, tôi hỏi Q bị ai chém thì Q nói bị Chú Tiểu chém...Tôi khẳng định lúc C đi vào phía sau quán và lúc đi về thì có đi ngang tôi, C thấy tôi nhưng không có nói chuyện gì với tôi, tôi cũng không có rủ C nhậu...”.

[6] Như vậy lời khai của bị hại Mai Thanh Q là phù hợp với lời khai bị cáo T1 và bị cáo N, phù hợp với hiện trường, thời gian xảy ra vụ án và tỉ lệ thương tật trên người bị hại. Bị cáo C cho rằng khi chạy vào trong quán thì gặp anh Mai Hồng C4, anh C4 có rủ bị cáo nhậu nhưng bị cáo không nhậu mà đi ra ngoài chứ bị cáo không có rượt ai chạy vào sau quán và không có chém Quí. Tuy nhiên lời khai này của bị cáo lại mẫu thuẫn với lời khai của anh Mai Hồng C4. Tại phiên tòa bị cáo C cũng thừa nhận từ trước đến nay giữa bị cáo với T1, N, Q và C4 đều không có mâu thuẫn gì. Như vậy mặc dù bị cáo C không thừa nhận đã chém anh Mai Thanh Q, nhưng với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa đã có cơ sở kết luận chính bị cáo C là người đã dùng cây dao chém trúng vào tay trái của anh Mai Thanh Q.

[7] Các bị cáo dùng hung khí nguy hiểm và có tính chất côn đồ, gây ra thương tích cho anh Mai Thanh Q với tỉ lệ thương tật là 13%, hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện vào ngày 21/02/2016 là thời điểm Bộ luật Hình sự năm 1999 đang có hiệu lực thi hành, như vậy đã phạm vào tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 2 Điều 104 của luật này (có mức phạt tù từ 02 năm đến 07 năm). Tuy nhiên, theo quy định tại Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, thì hành vi của các bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định mức hình phạt nhẹ hơn (phạt tù từ 02 năm đến 06 năm) là quy định có lợi cho người phạm tội. Do đó Cáo trạng số 30/CT-VKS-HS ngày 14/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải truy tố các bị cáo tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo N và bị cáo T1 đã thật thà khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, hai bị cáo được người bị hại Mai Thanh Q xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo N có người thân trong gia đình là người có công với cách mạng nên được xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo C, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ bồi thường thiệt hại tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; ngoài ra được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 là bị cáo được người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có người thân trong gia đình là người có công với cách mạng. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[9] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, trong vụ án này Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối để cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung. Đây là vụ án có đồng phạm, thuộc đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự cấu kết phân công mà cùng thống nhất ý chí trong thực hiện tội phạm nên cả 03 bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự chung đối với tổng tỉ lệ thương tật đã gây ra cho bị hại. Do đó để quyết định mức hình phạt đối với từng bị cáo, ngoài việc xem xét các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo, thì Hội đồng xét xử còn đánh giá mức độ thành khẩn khai báo của từng bị cáo, trong vụ án này từ khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can đến khi truy tố và xét xử sơ thẩm, Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo N là người thành khẩn nhất trong 03 bị cáo, mặc dù có thời điểm bị cáo đã thay đổi lời khai (ngày 15/10/2016) nhằm che giấu hành vi của bị cáo C, nhưng sau khi vụ án được phục hồi bị cáo N đã nhận thức được hành vi sai trái của mình, thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, do đó Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt đối với bị cáo N là nhẹ nhất, sau đó đến bị cáo T1 và bị cáo C. Đối với bị cáo C, mặc dù bị cáo thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, nhưng trong cả quá trình giải quyết vụ án bị cáo vẫn nhiều lần quanh co, gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, do đó mức hình phạt đối với bị cáo C phải nặng hơn bị cáo T1 và N.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Mai Thanh Q đã được bồi thường thiệt hại với số tiền 30.000.000 đồng, tại phiên tòa anh Q không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[11] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[12] Về vật chứng: 03 cây dao mà các bị cáo dùng để thực hiện hành vi gây thương tích cho bị hại là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[13] Xét quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn C đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải cho bị cáo C là chưa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, mặc dù bị cáo nhận tội nhưng bị cáo vẫn chưa thành khẩn khai báo, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị này của người bào chữa.

[14] Quá trình điều tra, truy tố và xét xử không có khiếu nại hoặc tố cáo đối với các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Đồng thời, các hoạt động thu thập chứng cứ đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh T1Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 01 năm 2024.

    Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

    - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 01 năm 2024.

    - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T1 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2022/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T1 phải chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2021.

  2. Xử lý vật chứng, căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
    • 01 (một) cây dao mũi bằng, chất liệu bằng kim loại màu xám đen, kích thước toàn bộ cây dao dài 30 cm, (phần lưỡi dao dài 19,5cm, phần cán dao dài 10,5cm), lưỡi dao được gắn vào cán dao bằng hai cây đinh (01 cây dài 5cm, 01 cây đã cắt ngắn). Lưỡi dao hình dạng chử nhật kích thước 19,5cm x 6,2cm, một cạnh bén, cạnh còn lại có hình dạng lưỡi cưa.
    • 01 (một) cây dao mũi nhọn, chất liệu bằng kim loại, kích thước toàn bộ cây dao dài 80 cm (bao gồm phần võ bọc lưỡi dao dài 57cm), phần cán dao dài 23cm (trên cán dao có lỗ hình thoi) phần lưỡi dao dài 53cm, màu trắng, một cạnh sắc bén, cạnh còn lại hơi tà, nơi rộng nhất lưỡi dao đo được là 3cm.
    • 01 (một) cây dao dài 37,5cm, (trong đó: lưỡi dao dài 24 cm, bằng kim loại màu xám đã rỉ sét, nơi rộng nhất của lưỡi dao là 6,2cm, nơi hẹp nhất của lưỡi dao là 3cm, mũi dao bằng trên bề mặt lưỡi dao có một lỗ tròn, phần cán dao bàng gỗ dài 13,5cm, không rỏ hình dạng, xung quanh cán dao có quấn hai sợi dây kim loại đã rỉ sét.
  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn C, Nguyễn Thanh T1Nguyễn Văn N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND Tx. Duyên Hải;
  • - Công an Tx. Duyên Hải;
  • - Chi cục THADS Tx. Duyên Hải;
  • - UBND xã Long Hữu;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Tài

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Nước

Phạm Phi Long

Nguyễn Hữu Tài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Chơn, Nguyễn Thanh Tuấn và Nguyễn Văn Nghị phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Chơn 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 01 năm 2024. Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Nghị 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 01 năm 2024. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Tuấn 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2022/HS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh Tuấn phải chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 12 năm 2021.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger