TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 19/2024/KDTM-ST Ngày: 26/4/2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Ngọc
- Bà Hoàng Lệ Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương công khai xét xử sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 02/2024/KDTM-ST ngày 05 tháng 01 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐST- KDTM ngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; địa chỉ: số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 2000; địa chỉ: số I C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (văn bản ủy quyền số 3399/2024/UQ- PGĐ ngày 15/4/2024). Có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH T1; địa chỉ: số A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1983; địa chỉ: số G, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 25 tháng 11 năm 2023, quá trình tham gia tổ tụng đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Công ty TNHH T1 (viết tắt là công ty T1) đã ký hợp đồng vay vốn tại Ngân hàng TMCP V - Chi nhánh G, thành phố Hồ Chí Minh (viết tắt là Ngân hàng V1) theo các Hợp đồng sau:
Hợp đồng cho vay số GVP/21068 ngày 27/12/2021 với số tiền 322.000.000đ với mục đích thanh toán tiền mua xe ô tô, thời hạn vay 70 tháng, khế ước nhận nợ lần 1/số: GVP/21068 ngày 29/12/2021. Để bảo đảm số tiền vay công ty T1 ký Hợp đồng thế chấp số GVP/21069 ngày 27/12/2021, tài sản thế chấp là 01 xe ô tô hiệu Vinfast biển số 61K- 000.26, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do phòng CSGT Công an tỉnh B cấp ngày 17/12/2021.
Hợp đồng cho vay số GVP/22006 ngày 24/01/2022 với số tiền 347.650.000₫ với mục đích thanh toán tiền mua xe ô tô, theo khế ước nhận nợ lần 1/số: GVP/22006 ngày 26/01/2022, thời hạn vay 70 tháng từ ngày 26/01/2022 đến ngày 26/11/2027. Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 8.9%/năm. Lãi suất trong hạn được cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên, ngày điều chỉnh đầu tiên 27/01/2023 điều chỉnh 1 tháng/lần. Để đảm bảo số tiền vay công ty T1 ký Hợp đồng thế chấp số GVP/22007 ngày 24/01/2022, tài sản thế chấp là 01 xe ô tô hiệu Vinfast biển số 61K- 023.85, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do phòng CSGT Công an tỉnh B cấp ngày 17/01/2022.
Hợp đồng cho vay hạn mức số EGV/22048 ngày 27/01/2022 với số tiền 3.000.000.000₫ (ba tỷ đồng), mục đích vay bổ sung vốn lưu động cho mục đích sản xuất, theo khế ước nhận nợ số 270722- 7593103- ONL-1, thời hạn vay 6 tháng từ ngày 01/08/2022 đến ngày 30/01/2023; lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 16.9%/năm. Lãi suất được điều chỉnh định kỳ 1 tháng/lần, ngày điều chỉnh đầu tiên 01/09/2022. Để bảo đảm cho khoản vay ngày 27/01/2022 bà Nguyễn Thị P đã ký hợp đồng bảo lãnh số EGV/22049 với nội dung bằng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho bên được bảo lãnh là Công ty T1 trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ các Hợp đồng tín dụng nêu trên giữa Ngân hàng V1 và Công ty T1.
Tổng số tiền Công ty T1 vay của Ngân hàng V1 - Chi nhánh G là 3.669.650.000đ (ba tỷ, sáu trăm sáu mươi chín triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Trong quá trình sử dụng vốn vay, Công ty T1 đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ khoản vay đã chuyển thành nợ quá hạn. Ngân hàng V1 đã nhiều lần liên hệ và làm việc với Công ty T1 và bà Nguyễn Thị P để yêu cầu hoàn trả nợ vay, nhưng Công ty T1 và bà Nguyễn Thị P cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy, ngày 15/10/2022 Ngân hàng đã chuyển khoản vay sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 26/4/2024, Công ty T1 đã thanh toán cho Ngân hàng V1 tổng số tiền 238.768.010 đồng (trong đó nợ gốc là 114.841.754 đồng, nợ lãi là 123.926.256 đồng); còn nợ ngân hàng V1 tiền gốc là 3.554.808.246₫, lãi quá hạn là 1.472.946.900đ, lãi chậm trả là 126.659.423đ. Nay Ngân hàng V1 yêu cầu Tòa án buộc Công ty T1 phải thực hiện nghĩa vụ như sau :
- Phải trả ngay một lần cho ngân hàng V1 tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm 26/4/2024 là 5.154.414.569₫ (năm tỷ, một trăm năm mươi bốn triệu, bốn trăm mười bốn nghìn, năm trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 3.554.808.246đ, lãi quá hạn là 1.472.946.900đ, lãi chậm trả là 126.659.423₫.
Ngoài ra, kể từ ngày 27/4/2024 Công ty T1 phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo các hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho ngân hàng V1.
- Trường hợp Công ty T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số nợ thì Ngân hàng V1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp là:
- 01 xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, số loại FADIL A5A2CLFVN biển số 61K-000.26 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do phòng CSGT Công an tỉnh B cấp ngày 17/12/2021 được ký theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: GVP/21069 ngày 27/12/2021.
- 01 Xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, số loại FADIL A5A2CLFVN biển số 61K-023.85 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do phòng CSGT Công an tỉnh B cấp ngày 17/01/2022 được ký theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: GVP/22007/ngày 24/01/2022.
- Trường hợp tài sản thế chấp của Công ty T1 không đủ thanh toán số nợ, thì bà Nguyễn Thị P phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho Công ty T1 theo Hợp đồng bảo lãnh đã ký với ngân hàng V1.
- Đối với bị đơn Công ty TNHH T1:
Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tống đạt tố tụng và đăng báo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với bị đơn Công ty T1, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến hay cung cấp tài liệu chứng cứ gì.
- Tại văn bản số 167/ĐKKD ngày 19/02/2024, Sở kế hoạch và Đầu tư tỉnh B cung cấp thông tin:
Công ty TNHH T1, mã số doanh nghiệp C, đăng ký lần đầu ngày 29/3/2019, đăng ký lần thứ 4 ngày 01/7/2022; địa chỉ trụ sở chính: số A, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Thị P. Hiện Công ty T1 đã đăng ký tạm ngừng kinh doanh từ ngày 06/12/2023 đến ngày 05/12/2024.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Bị đơn được triệp tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử xem xét và thẩm tra công khai tại phiên tòa cho thấy chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền 5.154.414.569đ, trong đó nợ gốc là 3.554.808.246đ, lãi quá hạn là 1.472.946.900đ, lãi chậm trả là 126.659.423đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn Ngân hàng V1 khởi kiện yêu cầu Công ty G1 khoản nợ từ hợp đồng cho vay. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn Công ty T1 có trụ sở ở khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại các Điều 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Bị đơn Công ty T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Đối với yêu cầu buộc bị đơn phải trả tổng số tiền 5.154.414.569₫ (trong đó nợ gốc là 3.554.808.246đ, lãi quá hạn là 1.472.946.900đ, lãi chậm trả là 126.659.423đ) tại các hợp đồng cho vay hạn mức số EGV/22048 ngày 27/01/2022; Hợp đồng cho vay số GVP/22006 ngày 24/01/2022; hợp đồng cho vay số GVP/21068 ngày 27/12/2021 thì thấy: giữa nguyên đơn và bị đơn có ký kết hợp tín dụng, hợp đồng được giao kết giữa người có thẩm quyền của hai bên, thể hiện ý chí tự nguyện của hai bên, không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức xã hội nên có hiệu lực bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện. Sau khi ký hợp đồng Ngân hàng V1 đã làm thủ tục giải ngân số tiền 3.669.650.000 đồng theo các khế ước nhận nợ số 270722-7593103- ONL-1 với số tiền là 3.000.000.000 đồng, khế ước nhận nợ lần 01 số GVP/22006 ngày 26/01/2022 (LD220260 0333) với số tiền là 347.650.000 đồng, khế ước nhận nợ lần 01 số GVP/21068 ngày 29/12/2021 (LD213630 0541) với số tiền là 322.000.000 đồng. Theo bảng tổng hợp dư nợ tính đến ngày 26/4/2024 Công ty T1 đã trả được 114.841.754 đồng tiền nợ gốc và 123.926.256 đồng tiền lãi. Như vậy, công ty T1 còn nợ tiền gốc là 3.554.808.246 đồng, tiền lãi quá hạn là 1.472.946.900 đồng, lãi chậm trả là 126.659.423 đồng. Việc công ty T1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng có quyền khởi kiện yêu cầu công ty T1 phải trả số nợ trên.
[2.2] Quá trình tố tụng công ty T1 được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, coi như từ bỏ quyền trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V1. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu công ty T1 trả số tiền nợ nêu trên là có căn cứ.
[2.3] Về tài sản thế chấp: Để bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng nêu trên, công ty T1 có ký hợp đồng thế chấp xe ô tô số: GVP/21069 ngày 27/12/2021 đối với xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, số loại FADIL A5A2CLFVN biển số 61K-000.26 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do phòng CSGT Công an tỉnh B cấp ngày 17/12/2021 và Hợp đồng thế chấp xe ô tô số: GVP/22007/ngày 24/01/2022 đối với xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, số loại FADIL A5A2CLFVN biển số 61K-023.85 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do phòng CSGT Công an tỉnh B cấp ngày 17/01/2022. Hợp đồng thế chấp đã được ký kết giữa những người có thẩm quyền, không vi phạm điều cấm của Luật, không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực, bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện. Tại Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm: “Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Trong trường hợp này Công ty T1 là bên có nghĩa vụ nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ nên Ngân hàng V1 là bên nhận thế chấp yêu cầu được phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ chấp nhận. Toà án đã làm thủ tục thông báo việc xem xét thẩm định đối với tài sản thế chấp cho công ty T1, nhưng công ty vắng mặt nên không tiến hành xem xét thẩm định được.
[2.4] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện kiện của nguyên đơn Ngân hàng V1 đối với bị đơn công ty T1 về việc tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Buộc công ty T1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng V1 số tiền nợ 5.154.414.569đ (năm tỷ, một trăm năm mươi bốn triệu, bốn trăm mười bốn nghìn, năm trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 3.554.808.246 đồng, lãi quá hạn là 1.472.946.900 đồng, lãi chậm trả là 126.659.423 đồng.
[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật.
[4] Chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét thẩm định Ngân hàng V1 đã nộp tạm ứng tại Tòa án nên Công ty T1 có trách nhiệm thanh toán lại cho Ngân hàng V1.
Chi phí đăng báo: Ngân hàng V1 tự nguyện chịu.
[5] Án phí: Do yêu cầu của Ngân hàng được Tòa án chấp nhận nên công ty T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải trả nợ cho Ngân hàng theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Các Điều 30, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 299, 323 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V với bị đơn Công ty TNHH T1 về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Buộc Công ty TNHH T1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP V số tiền nợ theo các hợp đồng cho vay hạn mức số EGV/22048 ngày 27/01/2022; hợp đồng cho vay số GVP/22006 ngày 24/01/2022; hợp đồng cho vay số GVP/21068 ngày 27/12/2021 là 5.154.414.569₫ (năm tỷ, một trăm năm mươi bốn triệu, bốn trăm mười bốn nghìn, năm trăm sáu mươi chín đồng), trong đó nợ gốc là 3.554.808.246₫, lãi quá hạn là 1.472.946.900đ, lãi chậm trả là 126.659.423₫.
- Buộc Công ty TNHH T1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại các Hợp đồng vay trên kể từ ngày 27/4/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ;
- Trường hợp Công ty TNHH T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP V được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là:
- + 01 xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, số loại FADIL A5A2CLFVN biển số 61K-000.26 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do phòng CSGT Công an tỉnh B cấp ngày 17/12/2021;
- + 01 xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, số loại FADIL A5A2CLFVN biển số 61K-023.85 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô do phòng CSGT Công an tỉnh B cấp ngày 17/01/2022.
- Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ, thì Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án buộc bà Nguyễn Thị P phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho Công ty TNHH T1 theo các Hợp đồng bảo lãnh đã ký với Ngân hàng TMCP V.
- Chi phí tố tụng: Công ty TNHH T1 phải chịu 2.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) và thanh toán lại cho Ngân hàng TMCP V.
Chi phí đăng báo 5.000.000đ (năm triệu đồng) Ngân hàng TMCP V đã nộp đủ.
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH T1 phải chịu 113.154.414đ (một trăm mười ba triệu, một trăm năm mươi bốn nghìn, bốn trăm mười bốn đồng).
Trả lại cho Ngân hàng TMCP V số tiền 56.349.738đ (năm mươi sáu triệu, ba trăm bốn mươi chín nghìn, bảy trăm ba mươi tám đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001462 ngày 27/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Anh Thư |
Bản án số 19/2024/KDTM-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 19/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị dơn phải đăng báo
