Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH AN

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 26/4/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con,

chia nợ chung khi ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Mai

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vương Thành Tuân

2. Ông Hoàng Đức Anh

Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn An – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng: Ông Bế Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 35/2023/TB-TLVA ngày 02 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐXXST-HNGD ngày 09 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Triệu Thị N – sinh năm: 2002.
  • ĐKHKTT: thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
  • Chỗ ở hiện nay: thôn K, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt tại phiên tòa.
  • - Bị đơn: Ông Nông Văn C – sinh năm: 1993.
  • ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Phòng Giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T
    2. Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Mạnh H – Chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
    3. Ông Nông V Thuộc
    4. Địa chỉ: thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do (yêu cầu giải quyết vắng mặt).
    5. Bà Hoàng Thị N1
    6. Địa chỉ: thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa có lý do (có đơn xin giải quyết vắng mặt).
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Triệu Thị N: Bà Hoàng Thị Diệp H1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C. Có mặt tại phiên tòa.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Nông Văn C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nông Văn T, bà Hoàng Thị N1: Ông Triệu Bằng G – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/10/2023, bản tự khai ngày 07/12/2023, biên bản làm việc ngày 10/01/2024, nguyên đơn bà Triệu Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nông Văn C kết hôn vào ngày 20/5/2020, hôn nhân được tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, kê khai đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống bình thường được một thời gian đến tháng 02/2023 thì phát sinh mâu thuẫn do ông C ham mê rượu chè, không tu chí làm ăn. Bà thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn quá nhiều, không tìm được tiếng nói chung và không thể hàn gắn được nên yêu cầu được ly hôn với ông C.

Về con chung: Hai vợ chồng có 01 (một) con chung tên Nông Văn K (Giới tính: Nam) – sinh ngày: 31/8/2019. Trong trường hợp ly hôn, con chung sẽ do ông C trực tiếp, nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi trưởng thành; bà cấp dưỡng nuôi con 500.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung: Hai vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Đối với số tiền nợ 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng), bà chỉ thấy ông C nói chuyện qua. Bà được biết là vay về làm nhà; bà không được tiêu đồng nào trong số tiền này. Nay ông C yêu cầu bà có trách nhiệm trả nợ cùng ông C số tiền 20.000.000,₫ (hai mươi triệu đồng) và lãi theo chu trình trả nợ của ngân hàng bà không nhất trí.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 28/12/2023, ngày 28/3/3024 bị đơn ông Nông Văn C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông kết hôn với bà N từ tháng 9/2017, hôn nhân được tìm hiểu, tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Khi kết hôn hai vợ chồng đều đang làm nghề tự do. Sau khi kết hôn tình cảm vợ chồng không có gì mâu thuẫn. Trong quá trình chung sống bà N có đặt vấn đề đi làm công nhân tại Bắc Ninh nhiều lần tuy nhiên thời điểm đó ông đang có ý định sửa nhà dẫn đến hai vợ chồng xảy ra cãi vã nhưng không có xô xát. Ngoài ra, hai bên còn có mâu thuẫn về kinh tế, về lối sống. Ông và bà N đã ly thân từ tháng 02/2023. Từ thời điểm ly thân bà N đã chặn mọi liên lạc với ông. Bà N yêu cầu ly hôn ông nhất trí.

Về con chung: Hai vợ chồng có 01 (một) con chung tên Nông Văn K (Giới tính: Nam) – sinh ngày: 31/8/2019. Trong trường hợp ly hôn, ông yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Hai vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung:

Ngày 09/9/2022, gia đình ông vay số tiền 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng) tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện T, thời hạn trả nợ là ngày 09/9/2037 với mục đích xây mới nhà ở theo chương trình vay đồng bào dân tộc thiểu số miền núi theo nghị định 28. Thời điểm vay số tiền 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng) bà N chưa đi làm công nhân tại công ty mà vẫn đang chung sống với gia đình chồng. Bà N đã ủy quyền cho ông đứng tên vay số tiền 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng) (giấy ủy quyền bà N ký xác nhận và có xác nhận của chính quyền xã). Đối với số nợ này, ông yêu cầu bà N có trách nhiệm thanh toán số tiền 20.000.000,₫ (hai mươi triệu đồng) và lãi theo chu trình trả nợ của ngân hàng.

Năm 2021, gia đình ông vay số tiền 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng) tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện T với mục đích vay trồng cây quế. Khi vay số tiền này bà N và bố mẹ ông đều biết và cùng thống nhất ký vào giấy ủy quyền để ông thực hiện thủ tục vay vốn tại Ngân hàng C (thời điểm này gia đình ông gồm 04 người: ông, vợ ông Triệu Thị N, bố ông Nông Văn T, mẹ ông Hoàng Thị N1; giấy ủy quyền năm 2021, có xác nhận của chính quyền địa xã). Số tiền này gia đình ông chưa trả được tiền gốc lần nào còn tiền lãi ông là người trực tiếp trả theo tháng cho tổ trưởng tổ vay vốn (mỗi tháng số tiền trả lãi khác nhau). Thời điểm vay số tiền này, bà N vẫn đang chung sống cùng ông và gia đình chồng, chưa đi làm công nhân tại khu công nghiệp. Đối với số tiền vay này, ông sẽ có trách nhiệm tự mình thanh toán cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện T số tiền gốc và lãi phát sinh, không yêu cầu bố mẹ ông và bà N phải liên đới cùng thanh toán cho Ngân hàng. Ông là hộ nghèo nên đề nghị Tòa án xem xét miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 28/3/3024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị N1 trình bày:

Năm 2021, gia đình bà vay số tiền 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng) tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện T với mục đích vay trồng cây quế. Ông C là người đứng tên vay. Bà, chồng bà và bà N cùng ủy quyền cho ông C (thời điểm này gia đình gồm 04 người: bà, chồng bà ông Nông Văn T, con trai bà Nông Văn C, con dâu bà Triệu Thị N; việc ủy quyền có lập biên bản, được ký tên, có xác nhận của chính quyền xã). Số tiền này gia đình bà chưa trả được tiền gốc lần nào còn tiền lãi hàng tháng con trai bà là người trực tiếp trả. Thời điểm vay số tiền này các thành viên trong gia đình đều biết và khi đó bà N vẫn chung sống với chồng và gia đình nhà chồng. Bà N cũng nhất trí vay. Đối với số tiền nợ này, bà nhất trí để ông C sẽ có trách nhiệm tự mình thanh toán cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện T cả tiền gốc và lãi phát sinh, không yêu cầu bà, ông T và bà N phải liên đới cùng thanh toán cho Ngân hàng.

Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 28/3/3024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nông Văn T trình bày:

Năm 2021, gia đình ông vay số tiền 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng) tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện T với mục đích vay trồng cây quế. Ông được ủy quyền cho ông C đứng tên vay (thời điểm này gia đình gồm 04 người: ông, vợ ông Hoàng Thị N1, con trai ông Nông Văn C, con dâu ông Triệu Thị N; giấy ủy quyền năm 2021 có xác nhận của UBND xã Đ). Số tiền này gia đình ông chưa trả được tiền gốc lần nào còn tiền lãi hàng tháng ông C là người trực tiếp trả cho tổ trưởng tổ vay vốn (mỗi tháng số tiền trả lãi khác nhau). Thời điểm vay số tiền này, bà N vẫn đang chung sống cùng gia đình chồng, chưa đi làm công nhân tại khu công nghiệp. Khi vay số tiền này vợ chồng ông và bà N đều biết và nhất trí vay. Ngoài khoản vay này còn khoản vay 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng) vợ chồng con trai ông tự vay với mục đích để làm nhà. Do vậy, vợ chồng con trai ông tự có trách nhiệm trả số tiền đó. Đối với số tiền 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng) gốc và lãi phát sinh, ông C sẽ có trách nhiệm tự mình thanh toán cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện T, không yêu cầu ông, bà N1 và bà N phải liên đới cùng thanh toán cho Ngân hàng. Do điều kiện cá nhân và đường xá đi lại khó khăn nên ông yêu cầu được vắng mặt tại Tòa án trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án ly hôn giữa bà Triệu Thị N và ông Nông Văn C.

Tại bản tự khai ngày 16/01/2024, biên bản làm việc ngày 27/02/2024, ngày 29/3/2024 Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T trình bày:

Đối với khoản vay 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng) theo hợp đồng số 6600000723922843 ngày 09/9/2022: Tại giấy ủy quyền ngày 21/11/2019 người có trách nhiệm đối với khoản vay là bà Triệu Thị N và ông Nông Văn C nên yêu cầu ông C, bà N cùng có trách nhiệm trả khoản vay này cho Ngân hàng và lãi phát sinh (cụ thể mỗi người phải thanh toán 20.000.000,₫ tiền gốc và lãi phát sinh theo chu trình trả nợ của Ngân hàng).

Đối với khoản vay 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng) theo hợp đồng số 6600000720111670 ngày 09/4/2021: Tại giấy ủy quyền ngày 14/3/2021 tại mục I những người cam kết trả nợ gồm ông Nông Văn T, bà Hoàng Thị N1, ông Nông Văn C, bà Triệu Thị N. Ngân hàng nhất trí với ý kiến của ông Nông Văn C, bà Hoàng Thị N1, ông Nông Văn T. Đó là số tiền 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng) sẽ để ông C tự mình có trách nhiệm trả cho Ngân hàng, không yêu cầu ông T, bà N1, bà N cùng có trách nhiệm trả cho ngân hàng cả gốc và lãi phát sinh. Do yêu cầu công tác nên Ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn bà Triệu Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Khi kết hôn, bà và ông C đều ở nhà. Trong quá trình mâu thuẫn hai vợ chồng có xảy ra xô xát. Mâu thuẫn vợ chồng gia đình hai bên đều biết, khuyên bảo nhưng không hòa giải được. Bà và ông C đã ly thân từ tháng 02/2023 đến nay. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn và giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông C.

Về con chung: Hai vợ chồng có 01 (một) con chung tên Nông Văn K (Giới tính: Nam) - sinh ngày: 31/8/2019. Trong trường hợp ly hôn, con chung sẽ do ông C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi trưởng thành, bà không cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay bà đang làm công nhân tại khu công nghiệp, thu nhập không ổn định, bà phải thuê nhà trọ.

Về tài sản chung: Hai vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung:

Đối với khoản vay 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng) tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện T: Đây là khoản vay của hai vợ chồng bà tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện T. Thời điểm vay hai vợ chồng bà vẫn chung sống với nhau. Bà được ông C thông báo việc vay tiền để làm nhà. Tuy nhiên, bà không được ký vào giấy ủy quyền cho ông C để thực hiện thủ tục vay tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện T. Khoản vay này chưa thanh toán tiền gốc và lãi cho Ngân hàng. Bà nhất trí trả số tiền nợ gốc 20.000.000,₫ (hai mươi triệu đồng) và lãi theo chu trình trả nợ của Ngân hàng.

Đối với khoản vay 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng) tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện T: Bà không được vay số tiền này, không được ký vào giấy ủy quyền để ông C thực hiện thủ tục vay tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện T. Bà chỉ được người nhà nói vay số tiền 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng) để đáo hạn cho khoản vay của bố mẹ chồng bà tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện T. Bà không có tài liệu chứng minh bà không được vay số tiền 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng). Bà không yêu cầu giám định chữ ký và tuổi mực đối với chữ ký của bà tại giấy ủy quyền vay số tiền 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng) và số tiền 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng). Đối với số tiền này, ông C có ý kiến ông C sẽ tự mình có trách nhiệm trả cho Ngân hàng, không yêu cầu ông T, bà N1 và bà cùng có trách nhiệm trả cho ngân hàng số tiền gốc và lãi phát sinh bà không có ý kiến gì.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Triệu Thị N bà Hoàng Thị Diệp H1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Triệu Thị N kết hôn với ông Nông Văn C năm 2020, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, tổ chức lễ cưới ở hai bên gia đình và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà N, ông C là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, bà N, ông C xảy ra mâu thuẫn và hai bên cùng xác nhận đã ly thân từ tháng 02/2023 đến nay. Bà N yêu cầu ly hôn, ông C nhất trí nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận việc thuận tình ly hôn giữa bà N và ông C.

Về con chung: Quá trình chung sống bà N, ông C có 01 (một) con chung tên Nông Văn K (Giới tính: Nam) – sinh ngày: 31/8/2019. Bà N, ông C đều thống nhất khi ly hôn con chung sẽ do ông C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi trưởng thành, không cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.

Về tài sản chung: Các đương sự xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Đối với khoản vay 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng), bà N nhất trí theo ý kiến của ông C và yêu cầu của Ngân hàng mỗi người có trách nhiệm thanh toán 20.000.000,₫ (hai mươi triệu đồng) tiền gốc và lãi phát sinh theo chu trình trả nợ của Ngân hàng nên đề nghị công nhận sự thỏa thuận này. Đối với khoản vay 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng), đề nghị công nhận thỏa thuận của ông C và Ngân hàng trong việc thanh toán số tiền trên đó là ông C sẽ tự mình có trách nhiệm trả cho Ngân hàng, không yêu cầu ông T, bà N1 và bà N cùng có trách nhiệm trả cho ngân hàng cả gốc và lãi phát sinh.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Nông Văn C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nông Văn T, bà Hoàng Thị N1 ông Triệu Bằng G trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nông Văn C và bà Triệu Thị N kết hôn với năm 2020, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, tổ chức lễ cưới ở hai bên gia đình và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông C, bà N là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, ông C và bà N xảy ra mâu thuẫn và hai bên cùng xác nhận đã ly thân từ tháng 02/2023 đến nay. Bà N yêu cầu ly hôn, ông C nhất trí nên đề nghị Hội đồng xét xử công nhận việc thuận tình ly hôn giữa ông C và bà N.

Về con chung: Quá trình chung sống ông C, bà N có 01 (một) con chung tên Nông Văn K (Giới tính: Nam) – sinh ngày: 31/8/2019. Bà N, ông C đều thống nhất khi ly hôn con chung sẽ do ông C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến khi trưởng thành, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.

Về tài sản chung: Các đương sự xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Đối với khoản vay 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng), ông C và Ngân hàng đều yêu cầu bà N có trách nhiệm mỗi người thanh toán 20.000.000,₫ (hai mươi triệu đồng) tiền gốc và lãi phát sinh theo chu trình trả nợ của Ngân hàng. Bà N nhất trí nên đề nghị công nhận sự thỏa thuận này. Đối với khoản vay 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng), đề nghị công nhận thỏa thuận của ông C và Ngân hàng trong việc thanh toán số tiền trên cụ thể ông C sẽ tự mình có trách nhiệm trả cho Ngân hàng, không yêu cầu ông T, bà N1 và bà N cùng có trách nhiệm trả cho ngân hàng cả gốc và lãi phát sinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng phát biểu quan điểm:

* Việc tuân theo pháp luật:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 48, 195, 196, 197, 198, 203, 239 và 243 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử đã thực hiện, tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký tòa án đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

* Việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điều 28, 35, 39, 147, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Triệu Thị N được ly hôn với ông Nông Văn C.

Về con chung: Giao con chung Nông Văn K (Giới tính: Nam) – sinh ngày: 31/8/2019 con ông Nông Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trường thành, không yêu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Hai bên đương sự xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung:

Đối với khoản vay 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng) ngày 09/4/2021: đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận giữa các đương sự cụ thể ông C sẽ tự mình có trách nhiệm trả cho Ngân hàng, không yêu cầu ông T, bà N1 và bà N cùng có trách nhiệm trả cho ngân hàng cả gốc và lãi phát sinh.

Đối với khoản vay 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng) ngày 09/9/2022: đề nghị công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, ông C và bà N mỗi người phải thanh toán 20.000.000,₫ (hai mươi triệu đồng) tiền gốc và lãi phát sinh theo chu trình trả nợ của Ngân hàng.

Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến trình bày của nguyên đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Triệu Thị N, bị đơn Nông Văn C, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nông Văn T, Hoàng Thị N1 ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền:

Bà Triệu Thị N khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với ông Nông Văn C địa chỉ: xóm K, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.

[1.2]. Về quan hệ pháp luật:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/10/2023, nguyên đơn bà Triệu Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” nên Tòa án nhân dân huyện Thạch An thụ lý vụ án với quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Trong quá trình giải quyết vụ án mà cụ thể là tại biên bản lấy lời khai ngày 28/12/2023, bị đơn ông Nông Văn C trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng có khoản nợ chung 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng) tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện T và yêu cầu bà N phải cùng có trách nhiệm thanh toán khoản tiền này cho Ngân hàng.

Tòa án nhân dân huyện Thạch An đã tống đạt trực tiếp thông báo tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần cho ông C nhưng ông C đều vắng mặt tại Tòa án không có lý do. Ông C cũng không có đơn yêu cầu tòa án giải quyết số nợ chung mà ông đã trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 28/12/2023. Ngày 24/01/2024, Tòa án nhân dân huyện Thạch An tiến hành việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ vắng mặt ông C và lập biên bản không hòa giải được sau khi có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải của bà N. Ngày 02/4/2024, Tòa án nhân dân huyện Thạch An nhận được đơn yêu cầu chia nợ chung đề ngày 28/3/2024 của ông Nông Văn C yêu cầu tòa án xem xét giải quyết số tiền nợ chung 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng) giữa ông và bà N tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện T.

Mặc dù, ông C có đơn yêu cầu chia nợ chung sau khi Tòa án đã tiến hành việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng do đây là vụ án hôn nhân và gia đình nên để giải quyết triệt để vụ án Tòa án nhân dân huyện Thạch An vẫn xem xét giải quyết khoản nợ chung mà ông C yêu cầu tại Ngân hàng. Do vậy, quan hệ pháp luật của vụ án này được xác định lại là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia nợ chung khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3]. Về sự vắng mặt của bị đơn; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bị đơn Nông Văn C đã được tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng liên quan đến vụ án. Ông C, ông T, bà N1 và Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T đều đã có lời khai và có ý kiến (đơn) xin giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân:

Bà Triệu Thị N kết hôn với ông Nông Văn C năm 2020, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, tổ chức lễ cưới ở hai bên gia đình và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà N, ông C là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[3]. Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:

Tại phiên tòa, nguyên đơn xác nhận quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông C ham mê rượu chè, không tu chí làm ăn. Hai vợ chồng không tìm thấy tiếng nói chung, không thể hàn gắn được, hai bên đã sống ly thân từ tháng 02/2023 đến nay và bà yêu cầu được ly hôn.

Bị đơn lại cho rằng sau khi kết hôn tình cảm vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Trong quá trình chung sống bà N có đặt vấn đề đi làm công nhân tại Bắc Ninh nhiều lần tuy nhiên thời điểm đó ông đang có ý định sửa lại nhà dẫn đến hai vợ chồng xảy ra cãi vã. Ngoài ra, hai bên còn có mâu thuẫn về kinh tế, về lối sống. Ông và bà N đã ly thân từ tháng 02/2023. Bà N yêu cầu ly hôn ông nhất trí.

Qua lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ vợ chồng giữa ông C, bà N đã tồn tại mẫu thuẫn và hai bên đã sống ly thân từ tháng 02/2023 đến nay. Giữa ông C và bà N đã thực sự không còn tình cảm, cuộc sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn đã đến mức độ trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp yêu cầu xin ly hôn của bà N.

[4]. Về con chung: Trong quá trình chung sống, các đương sự có 01 con chung là Nông Văn K (Giới tính: Nam) – sinh ngày: 31/8/2019.

Đối với người con chung này, ông C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành và không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, bà N nhất trí con chung sẽ giao cho ông C nuôi dưỡng và bà không đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Như vậy, cần giao người con chung cho ông C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi trưởng thành và không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

[5]. Về tài sản chung, nợ chung:

Về tài sản chung: Hai bên đương sự xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung:

- Theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay (chương trình cho vay: hộ nghèo) đề ngày 14/3/2021 và Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay – thu nợ – dư nợ (mã món vay: 6600000720111670) ngày 09/4/2021 ông Nông Văn C (địa chỉ: K, Đ, T, Cao Bằng) vay số tiền 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng) để trồng cây quế với hạn trả nợ cuối cùng là ngày 09/4/2026 (lãi suất 6,6%/năm). Theo giấy ủy quyền ngày 14/3/2021 tại mục I các thành viên gồm Nông Văn T, Hoàng Thị N1, Triệu Thị N ủy quyền cho Nông Văn C thực hiện đứng tên người vay và thực hiện các giao dịch với N2 hành chính sách xã hội.

Đối với khoản vay này, ông C, ông T và bà N1 đều xác nhận năm 2021, gia đình có vay số tiền này để trồng cây quế. Các thành viên trong gia đình đều biết và cùng thống nhất ký vào giấy ủy quyền để ông C thực hiện thủ tục vay vốn tại Ngân hàng C. Số tiền này gia đình chưa trả được tiền gốc lần nào còn tiền lãi ông C là người trực tiếp trả theo tháng cho tổ trưởng tổ vay vốn. Thời điểm vay số tiền này bà N vẫn đang chung sống cùng gia đình chồng, chưa đi làm công nhân tại khu công nghiệp.

Tại phiên tòa, bà N cho rằng bà không được vay, không được ký vào giấy ủy quyền để ông C thực hiện thủ tục vay vốn tại Ngân hàng. Bà chỉ được người nhà nói vay số tiền 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng) để đáo hạn cho khoản vay của bố mẹ chồng bà tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện T. Tuy nhiên, bà không cung cấp được tài liệu chứng minh bà không được vay số tiền 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng). Đồng thời, bà cũng không yêu cầu giám định chữ ký và tuổi mực đối với chữ ký của bà tại giấy ủy quyền ngày 14/3/2021. Như vậy, có căn cứ để khẳng định bà N được vay khoản tiền này tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện T và bà phải có trách nhiệm thanh toán số tiền vay này cho Ngân hàng cùng với ông C, ông T và bà N1. Tuy nhiên, ông C có ý kiến ông C sẽ tự mình có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền này, không yêu cầu ông T, bà N1 và bà N cùng có trách nhiệm trả cho ngân hàng số tiền gốc và lãi phát sinh. Ngân hàng cũng nhất trí với ý kiến này của ông C nên cần buộc cá nhân ông C tự mình có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng) tiền gốc và lãi phát sinh.

- Theo Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay (chương trình cho vay: vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Nghị định 28 – hỗ trợ nhà ở) đề ngày 15/8/2022 và Sổ lưu tờ rời theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ (mã món vay: 6600000723922843) ngày 09/9/2022 ông Nông Văn C (địa chỉ: K, Đ, T, Cao Bằng) vay số tiền 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng) để xây mới nhà ở với hạn trả nợ cuối cùng là ngày 09/9/2037 (lãi suất 3%/năm). Theo giấy ủy quyền ngày 21/11/2019 tại mục I các thành viên Triệu Thị N ủy quyền cho Nông Văn C thực hiện đứng tên người vay và thực hiện các giao dịch với N2 hành chính sách xã hội.

Đối với khoản vay này, ông C xác nhận thời điểm vay số tiền 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng) bà N chưa đi làm công nhân tại công ty mà vẫn đang chung sống với gia đình chồng. Bà N đã ủy quyền cho ông đứng tên vay số tiền 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng) (giấy ủy quyền bà N ký xác nhận và có xác nhận của chính quyền xã). Ông yêu cầu bà N có trách nhiệm thanh toán số tiền 20.000.000,₫ (hai mươi triệu đồng) và lãi theo chu trình trả nợ của ngân hàng. Ngân hàng C cũng yêu cầu ông C, bà N cùng có trách nhiệm trả khoản vay này cho Ngân hàng và lãi phát sinh (cụ thể mỗi người phải thanh toán 20.000.000,₫ tiền gốc và lãi phát sinh theo chu trình trả nợ của Ngân hàng).

Tại phiên tòa, bà N xác nhận đây là khoản vay của hai vợ chồng bà tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện T. Thời điểm này hai vợ chồng bà vẫn chung sống với nhau. Bà được ông C thông báo việc vay tiền để làm nhà. Tuy nhiên, bà không được ký vào giấy ủy quyền cho ông C thực hiện thủ tục vay tiền tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện T. Khoản vay này chưa thanh toán tiền gốc và lãi cho Ngân hàng. Bà nhất trí trả số tiền nợ gốc 20.000.000,₫ (hai mươi triệu đồng) và lãi theo chu trình trả nợ của Ngân hàng. Như vậy, đối với khoản vay 40.000.000,₫ (bốn mươi triệu đồng) cần buộc ông C và bà N mỗi người có trách nhiệm thanh toán 20.000.000,₫ (hai mươi triệu đồng) tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng.

[6]. Về án phí: Bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm cho yêu cầu xin ly hôn và án phí dân sự sơ thẩm có giá nghạch đối với khoản tiền nợ phải thanh toán cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện T. Tuy nhiên, bà N là người dân tộc thiểu số (Dao) cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên bà N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với khoản tiền nợ phải thanh toán cho Ngân hàng chính sách xã hội huyện T. Tuy nhiên, ông C thuộc hộ nghèo và có yêu cầu xin miễn án phí nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

[7]. Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8]. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 37, 51, 56, 81, 81, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Triệu Thị N.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Triệu Thị N được ly hôn với ông Nông Văn C.

[2]. Về con chung: Giao con chung Nông Văn K (Giới tính: Nam) – sinh ngày: 31/8/2019 con ông Nông Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi trường thành, không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.

Bên không trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để gây cản trở hoặc ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của người đang trực tiếp nuôi con. Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

[3]. Về tài sản chung, nợ chung:

Về tài sản chung: Hai bên đương sự xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Ông Nông Văn C có trách nhiệm thanh toán cho Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T 75.000.000,₫ (bảy mươi lăm triệu đồng) tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo chu trình trả nợ của Ngân hàng đối với mã món vay: 6600000720111670 ngày 09/4/2021 (Chương trình cho vay: hộ nghèo).

Ông Nông Văn C và bà Triệu Thị N có trách nhiệm thanh toán cho Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện T mỗi người 20.000.000,₫ (hai mươi triệu đồng) tiền nợ gốc và lãi phát sinh theo chu trình trả nợ của Ngân hàng đối với mã món vay: 6600000723922843 ngày 09/9/2022 (Chương trình cho vay: vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo Nghị định 28 – hỗ trợ nhà ở).

[4]. Về án phí:

Ông Nông Văn C được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Triệu Thị N được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Bà Triệu Thị N được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000,₫ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002004 ngày 01/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.

[5]. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn (vắng mặt tại phiên tòa có lý do) có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nông Văn T, Hoàng Thị N1, Phòng giao dịch ngân hàng chính sách huyện T (vắng mặt tại phiên tòa có lý do) có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cao Bằng;
  • - VKSND tỉnh Cao Bằng;
  • - VKSND huyện Thạch An;
  • - Chi Cục THADS huyện Thạch An;
  • - UBND xã Đức Thông, h. Thạch An;
  • - Đương sự
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Quỳnh Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HNGĐ - ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN, TỈNH CAO BẰNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia nợ chung khi ly hôn

  • Số bản án: 19/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia nợ chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Triệu Thị N - Nông Văn C ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger