|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26-4-2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phám- Chủ tọa phiên tòa: Ông Giáp Quang Huy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Kiểm
2. Ông Diêm Đăng Hoạt
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Ông Hà Đăng Chương - Kiểm sát viên.
Ngày 26/4/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 24/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/01/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2024/QÐST-HNGĐ ngày 15/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim D năm 1988; địa chỉ: Tổ C, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội(có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thế H năm 1984; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn chị Trần Thị Kim D1 trình bày:
+ Về quan hện hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thế H1 hôn ngày 08/11/2006; kết hôn trên có sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Bắc Giang theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về chung sống với nhau ngay. Thời gian khoảng 03 năm đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, kể từ năm 2009 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống và làm ăn kinh tế gia đình mà không thể thống nhất được với nhau. Đến cuối năm 2009, do mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng sống ly thân với nhau từ đó cho đến nay, không quan tâm chăm sóc cho nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng và kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Nguyễn Thế H2
+ Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung là Nguyễn Trần T ngày 03/10/2007, hiện con đang ở cùng chị kể từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay. Con khỏe mạnh và phát triển bình thường. Nay ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cho chị trực tiếp nuôi con đến khi con trưởng thành. Cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Nguyễn Thế H3 được Tòa án thông báo thụ lý vụ án, giao và niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ, nhưng anh H không gửi cho Tòa án Văn bản trình bầy ý kiến của mình, không đến Tòa án để làm việc, vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai tài liệu chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Trần Thị Kim D1 vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện của mình, không sửa đổi bổ sung yêu cầu gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị D đã chấp hành và thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Thế H4 chấp hành và không thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56 và 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Kim D1 được ly hôn anh Nguyễn Thế H5
2. Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Kim D1 trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Trần T ngày 03/10/2007.
3. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn anh Nguyễn Thế H3 được triệu tập đến phiên tòa hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào các điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Nguyễn Thế H2 có địa chỉ tại thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ điểm a khoản Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Yên thụ lý giải, quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[3] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định là quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, về con chung.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim D1 và anh Nguyễn Thế H2 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đhuyện T ngày 08/11/2006 theo quy định của pháp luật. Do đó xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận được khoảng 03 năm, kể từ cuối năm 2009 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng về quan điểm sống và làm ăn kinh tế gia đình, do mâu thuẫn trầm trong nên chị D2 về nhà bố mẹ đẻ tại Tổ C, phường Đ, quận B, thành phố H và vợ chồng sống ly thân nhau từ cuối năm 2009 cho đến nay, không quan tâm gì đến nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh gia đình anh H6 chính quyền địa phương, xác định được mâu thuẫn của vợ chồng chị D anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thậy yêu cầu của chị D3 ly hôn với anh H7 có căn cứ, nên được chấp nhận.
+ Đối với bị đơn anh H đã được Tòa án giao các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, nhưng anh H không đến Tòa án làm việc, không gửi văn bản trình bầy ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt tại các phiên hòa giải, các phiên tòa không có lý do, như vậy anh H đã tự từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Căn cứ Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án để giải quyết. Anh H8 chịu hậu quả pháp lý do đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
+ Về yêu cầu nuôi con chung: Theo lời khai của chị D và kết quả xác minh tại địa phương, xác định vợ chồng chị Danh H9 01 con chung là Nguyễn Trần T ngày 03/10/2007, kể từ khi vợ chồng sống ly thân thì cháu T1 ở cùng với chị D. Tòa án đã xác minh gia đình và địa phương xác định được chị D4 anh H10 đủ điều kiện về mọi mặt để chăm sóc, nuôi dưỡng con được tốt sau ly hôn nếu được Tòa án giao cho nuôi con. Song cháu T2 đơn trình bầy nguyện vọng muốn được tiếp tục ở với mẹ. Mặt khác, anh H3 tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy: Yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con sau ly hôn của chị D là có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của con. Căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình, giao chị D trực tiếp nuôi con Nguyễn Trần T3 Cấp dưỡng nuôi con, chị D không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Trần Thị Kim D1 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 91, khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm đ, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q; xử:
1. Về hôn nhân: Chị Trần Thị Kim D1 được ly hôn anh Nguyễn Thế H2
2. Về con chung: Giao chị Trần Thị Kim D1 trực tiếp nuôi con chung là Nguyễn Trần T ngày 03/10/2007.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Thế H11 quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Trần Thị Kim D1 phải chịu 300.000đồng đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006688 ngày 22/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Xác nhận chị Trần Thị Kim D1 đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết công khai bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giáp Quang Huy |
Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị D xin ly hôn và giải quyết về con chung với anh H
