Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỘC BÌNH

TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày 26-4-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Trạch;

Bà Hoàng Thị Giang.

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Slỉnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Lương Minh Hợp - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Lộc Minh D, sinh ngày 03 tháng 11 năm 1993 tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 2/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lộc Văn S và bà Hoàng Thị C; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không có; tiền án: 01 tiền án tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2019/HS-ST ngày 28/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 05 năm tù về tội Buôn bán hàng cấm; nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giữ từ ngày 08-01-2024 đến ngày 11-01-2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đến nay, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lộc Minh D là người sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2018 đến nay, bị lệ thuộc vào chất ma túy Heroin và không có việc làm ổn định. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 07/01/2024, Lộc Minh D nảy sinh ý định đi mua ma túy về sử dụng nên đã một mình đi bộ từ nhà đến khu vực cổng chào thuộc thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Tại đây, D gặp một người đàn ông lạ mặt (không biết họ tên, tuổi, địa chỉ) do nhìn giống người nghiện ma túy nên đã đi đến chỗ người đàn ông và hỏi “Anh có ma túy không, để cho em hai cái”, người đàn ông trả lời “Có” và đồng ý bán ma túy cho Lộc Minh D với giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Sau đó, Lộc Minh D đưa cho người đàn ông số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng), người đàn ông đó nhận tiền rồi bảo Lộc Minh D đợi và đi đâu đó khoảng 05 (năm) phút thì quay lại đưa cho Lộc Minh D 02 (hai) gói giấy màu trắng, bên trong có chứa bột màu trắng là chất ma túy Heroin. Sau khi mua được ma túy, Lộc Minh D đi bộ đến khu vực đồi gần đó một mình sử dụng hết 01 (một) gói ma túy, còn lại 01 (một) gói ma túy chưa sử dụng thì Lộc Minh D cất giấu vào trong túi quần đang mặc rồi đi về nhà ngủ. Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 08/01/2024, Lộc Minh D tiếp tục nảy sinh ý định sử dụng trái phép chất ma túy nên đã mang theo gói ma túy đi ra khỏi nhà để đi tìm chỗ sử dụng, khi đi đến khu vực thôn Bản Mới 2, xã Tú Đoạn thì bị tổ công tác Công an huyện Lộc Bình kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Tại bản Kết luận giám định số 192/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng bên trong gói giấy màu trắng thu giữ của Lộc Minh D khi bị bắt quả tang ngày 08/01/2024 gửi giám định đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,108 gam (đã trừ bì).

Bản Cáo trạng số: 17/CT-VKSLB, ngày 10 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lộc Minh D về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Lộc Minh D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như bản Cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lộc Minh D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lộc Minh D từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo là người sử dụng ma túy, không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ và vỏ bao gói (cũ). Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
  2. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định: Hồi 06 giờ 30 phút, ngày 08/01/2024, tổ công tác Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại khu vực thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì phát hiện bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái phía trước Lộc Minh D đang mặc có tàng trữ 01 (một) gói giấy màu trắng, bên trong gói giấy có chứa chất bột màu trắng là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 0,108 gam (đã trừ bì). Số ma túy trên là do trước đó vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 08/01/2024, Lộc Minh D mua với một người đàn ông lạ mặt tại khu vực cổng chào thuộc thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn với giá 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) với mục đích để sử dụng cho bản thân. Với hành vi trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lộc Minh D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo nhận thức được ma túy Heroin là chất gây nghiện cao, gây tổn hại nghiêm trọng đến trí tuệ, sức khỏe con người; là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội, các tội phạm khác. Bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy nhưng vẫn thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
  4. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo bị xử phạt 05 (năm) năm tù về tội Buôn bán hàng cấm tại Bản án hình sự số 22/2019/HS-ST ngày 28/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn; qua xác minh bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2023 và các quyết định khác của bản án nhưng chưa được xoá án tích mà tiếp tục phạm tội vào ngày 08/01/2024. Vì vậy, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  5. Về nhân thân: Bị cáo từng bị xử phạt 05 (năm) năm tù về tội Buôn bán hàng cấm tại Bản án hình sự số 22/2019/HS-ST ngày 28/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn do vậy bị cáo là người có nhân thân không tốt.
  6. Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng nên cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
  7. Về hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  8. Về xử lý vật chứng: Đối với 0,092 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt là do dùng làm mẫu giám định hết) đựng trong 01 (một) gói giấy và 01 (một) vỏ gói giấy (cũ) bên trong 01 (một) phong bì ghi chữ “Đồ vật, tài liệu thu giữ của Lộc Minh D khi bị bắt quả tang ngày 08/01/2024” (cũ), có chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới là vật cấm tàng trữ, lưu hành, vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
  9. Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lộc Minh D tại khu vực thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn do bị cáo không biết được tên tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét.
  10. Bị cáo Lộc Minh D phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  11. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử chấp nhận.
  12. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lộc Minh D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lộc Minh D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 08/01/2024.
  3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,092 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt là do dùng làm mẫu giám định hết) đựng trong 01 (một) gói giấy và 01 (một) vỏ gói giấy (cũ) bên trong 01 (một) phong bì ghi chữ “Đồ vật, tài liệu thu giữ của Lộc Minh D khi bị bắt quả tang ngày 08/01/2024” (cũ), có chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Đình C, trợ lý giám định và hình dấu của phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới.

    (Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10-4-2024).

  4. Án phí: Bị cáo Lộc Minh D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CQTHAHS CA h.Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn;
  • - CCTHADS huyện L, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lộc Minh D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. 2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lộc Minh D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 08/01/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger