TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE Bản án số: 19/2024/HS-ST Ngày: 26 - 4 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Huệ
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thuận
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Minh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HS, ngày 11 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Trần Văn H, tên gọi khác: không, sinh ngày 07/12/1991, tại tỉnh Bến Tre. Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T, sinh năm 1954 và bà Võ Thị G, sinh năm 1963; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không.
- Về nhân thân:
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2016/HSST ngày 30/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2016/HSST ngày 21/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 12/2016/HSST ngày 30/3/2016 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, H phải chấp hành chung của hai bản án là 04 năm tù. Hồ chấp hành xong án phạt tù ngày 28/01/2019, đã xóa án tích.
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 38 ngày 17/9/2014 của Công an xã A, huyện B, xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã nộp phạt.
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPVPHC ngày 07/5/2021, Công an xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt.
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPVPHC ngày 11/01/2022, Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã nộp phạt.
- Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 27/12/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt.
2. Phan Văn H1, tên gọi khác: không, sinh ngày 28/02/1996, tại tỉnh Bến Tre. Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: phụ xế (lơ xe); trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Quang H2, sinh năm 1974 và bà Phạm Thị C, sinh năm 1975; có vợ: Nguyễn Thị Thanh T1 sinh năm 1998, có 02 người con lớn nhất sinh năm 2017 và nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: không.
- Tiền sự: có 01 tiền sự, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 15/QĐ-XPHC ngày 15/3/2023 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện B xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Nhân thân: tại Quyết định số 25/QĐ-TA ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri về việc Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 14 tháng (H1 bị đưa vào cơ sở cai nghiện ngày 28/8/2023).
- Bị cáo đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện tỉnh Bến Tre. Bị cáo có mặt.
- Bị hại: Mai Thanh T2, sinh năm 1979. Nơi cư trú: số F, ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
- Người làm chứng:
- Phan Thi A, sinh năm 1988. Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
- Mai Minh Đ, sinh năm 1985. Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 09/6/2023, Trần Văn H rủ Phan Văn H1 đi trộm gà của người khác để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, H1 đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 71H1-040.88 (xe của H mua nhưng chưa sang tên chủ sở hữu) chở H1 mang theo 01 con dao đến chuồng nuôi gà của ông Mai Thanh T2, tại ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre để bắt trộm gà. Trên đường đi, Hồ nhặt 04 giỏ đệm để đựng gà và nhặt 01 con dao để chặt cây gim giỏ đệm. Đến nơi, Hồ dựng xe ngoài lộ bê tông rồi cùng với H1 vào chuồng nuôi gà của ông Mai Thanh T2 bắt trộm gà. Khi H1 và Hồ bắt được 15 con gà mái để vào 02 giỏ đệm thì bị anh T2 phát hiện truy hô bắt được H1 rồi trình báo Công an xã H đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H1, còn H bỏ chạy khỏi hiện trường.
Vật chứng, tài sản tạm giữ:
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 71H1-040.88 nhãn hiệu Dream, màu nâu, xe đã qua sử dụng của Trần Văn H mua nhưng chưa sang tên chủ sở hữu.
- 01 con dao dài 52cm, lưỡi bằng kim loại màu đen, mũi nhọn, cán bằng gỗ của Phan Văn H1 mang theo để đốn dừa.
- 01 con dao dài 40cm, lưỡi bằng kim loại màu đen, mũi bằng, bị rỉ sét, cán bằng gỗ và 04 giỏ đệm đan bằng lát do Trần Văn H nhặt trên đường đi.
- 15 con gà mái, tổng trọng lượng 26kg.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐG ngày 07/8/2023, Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện G kết luận: tổng cộng 26 kg gà, giá 90.000 đồng/kg, thành tiền là 2.340.000 đồng.
Quá trình điều tra, Trần Văn H và Phan Văn H1 khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như nêu trên; H và H1 khai phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập.
Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại 15 con gà mái, tổng trọng lượng 26kg cho anh Mai Thanh T2 vào ngày 23/10/2023, anh Mai Thanh T2 không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì khác.
Bản cáo trạng số 14/CT-VKSGT, ngày 14/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Trần Văn H và Phan Văn H1 về "Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng đã truy tố.
- Bị hại vắng tại phiên toà mặt nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, về trách nhiệm dân sự không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì sau khi nhận lại tài sản bị các bị cáo chiếm đoạt, về trách nhiệm hình sự có ý kiến yêu cầu xét xử các bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: tuyên bố các bị cáo Trần Văn H và Phan Văn H1 phạm "Tội trộm cắp tài sản”.
- Đối với bị cáo Trần Văn H: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Trần Văn H có mức án từ 15 tháng tù đến 21 tháng tù.
- Đối với bị cáo Phan Văn H1 áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Phan Văn H1 có mức án từ 09 tháng tù đến 15 tháng tù.
Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu và tiêu hủy:
- 01(một) con dao dài 52cm, lưỡi bằng kim loại màu đen, mũi nhọn, cán bằng gỗ của Phan Văn H1 mang theo để đốn dừa.
- 01 (một) con dao dài 40cm, lưỡi bằng kim loại màu đen, mũi bằng, bị rỉ sét, cán bằng gỗ và 04 giỏ đệm đan bằng lát do Trần Văn H nhặt trên đường đi.
- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01(một) xe mô tô biển kiểm soát 71H1-040.88 nhãn hiệu Dream, màu nâu, xe đã qua sử dụng của bị cáo H.
Lời nói sau cùng của các bị cáo là đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo và bị hại, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị hại, người làm chứng đều vắng mặt, đối với bị hại vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt, về trách nhiệm dân sự không có yêu cầu các bị cáo bồi thường gì sau khi nhận được tài sản bị các bị cáo chiếm đoạt, trong quá trình điều tra bị hại, người làm chứng đã có lời khai rõ ràng. Xét thấy, sự vắng mặt của bị hại không làm trở ngại cho việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại, người làm chứng nêu trên theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: lời khai nhận tội của các bị cáo Trần Văn H và Phan Văn H1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, đồng thời phù hợp lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập. Từ đó, có cơ sở xác định khoảng 00 giờ 30 phút ngày 09/6/2023 tại ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre, Trần Văn H và Phan Văn H1 đã có hành vi cùng nhau trộm cắp 15 con gà mái tổng trị giá 2.340.000 đồng của anh Mai Thanh T2.
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận hành vi của các bị cáo Trần Văn H và Phan Văn H1 phạm"Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Các bị cáo H và H1 cùng thực hiện hành vi trộm cắp, nên xác định là đồng phạm, tuy nhiên đồng phạm có tính chất giản đơn, không có phân công vai trò của các bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội, trong vụ án này bị cáo Hồ chủ đồng đề xuất rủ bị cáo H1 cùng H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Các bị cáo H và H1 nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản bị pháp luật nghiêm cấm do bản tính tham lam và ý thức xem thường pháp luật đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại vì động cơ tư lợi bất chính. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự an toàn của địa phương trên địa bàn nơi các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần xét xử các bị cáo nghiêm theo quy định của pháp luật.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo H đã 02 lần bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, 03 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, bị cáo H1 có một tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên xác định các bị cáo đều có nhân thân xấu.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ngoài tình tiết định tội, định khung hình phạt các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tài sản các bị cáo trộm trị giá là 2.340.000 đồng đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng đối với bị cáo H1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Qua xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân của từng bị cáo, về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì bị cáo H1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn so với bị cáo H. Do đó, mức hình phạt của bị cáo H cao so với bị cáo H1. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần cách ly các bị cáo khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định nhằm để cải tạo, giáo dục bị cáo sau này trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời để răn đe phòng ngừa tội phạm.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo H1 đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện tỉnh Bến Tre, bị cáo H có nghề nghiệp làm vườn, mức thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[8] Xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
- 01(một) xe mô tô biển kiểm soát 71H1-040.88 nhãn hiệu Dream, màu nâu, xe đã qua sử dụng của bị cáo H sử dụng làm phương tiện phạm tội, xét tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 01(một) con dao dài 52cm, lưỡi bằng kim loại màu đen, mũi nhọn, cán bằng gỗ của bị cáo H1 và 01 con dao dài 40cm, lưỡi bằng kim loại màu đen, mũi bằng, bị rỉ sét, cán bằng gỗ và 04 giỏ đệm đan bằng lát bị cáo Hồ nhặt trên đường đi. Các vật chứng nêu trên là công cụ sử dụng vào việc phạm tội hiện không còn giá trị sử dụng nên xét tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị hại sau khi nhận lại tài sản bị các bị cáo chiếm đoạt, bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì khác.
[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với các bị cáo đề nghị xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Về án phí hình sự: Các bị cáo Trần Văn H và Phan Văn H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn H và Phan Văn H1 phạm “Tội trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Phạt bị cáo Trần Văn H 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/12/2023.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Phạt bị cáo Phan Văn H1 01(một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án phạt tù.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu và tiêu hủy:
- 01(một) con dao dài 52cm, lưỡi bằng kim loại màu đen, mũi nhọn, cán bằng gỗ.
- 01(một) con dao dài 40cm, lưỡi bằng kim loại màu đen, mũi bằng, bị rỉ sét, cán bằng gỗ và 04 (bốn) giỏ đệm đan bằng lát.
- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01(một) xe mô tô biển kiểm soát 71H1-040.88 nhãn hiệu Dream, màu nâu, xe đã qua sử dụng của bị cáo Trần Văn H.
Các vật chứng nêu trên đã được giao nhận theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/3/2024 giữa Công an huyện G, tỉnh Bến Tre và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Trần Văn H, Phan Văn H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng bản án: các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Huệ |
Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 19/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
