Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HS-ST

Ngày 25-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T D - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vi Văn Dương

Ông Lương Khăm Niên

- Thư ký phiên tòa:

Bà Vy Phương Thảo- Thư ký Toà án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T D tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà:

Ông Võ Trọng Thắng- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: L Th Ng, tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 20 tháng 9 năm 1969 tại huyện T D, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản X Kh, xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông L D T (Đã chết) và con bà V Th D; chồng: L V Th, con: Có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21 tháng 12 năm 2023 đến ngày 27 tháng 12 năm 2023 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn Hùng – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt

- Người chứng kiến: Anh Đ V G. Vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 6/2023, L Th Ng đi xuống huyện D C, tỉnh Nghệ An để chơi. Khi xuống đến nơi, Ng đi vào một khu chợ (Ng không biết tên chợ, không biết địa chỉ ở xã nào). Tại đây, Ng có gặp một người đàn ông (Ng không biết tên, tuổi, địa chỉ) đang bán hàng tạp hóa. Gặp người đàn ông Ng hỏi: “Có thuốc súng bán không?”, người đàn ông trả lời: “Có, mua bao nhiêu tiền?”, Ng đưa cho người đàn ông 2.500.000 đồng. Người đàn ông cầm tiền rồi đưa cho Ng 01 túi ni lông màu đen, bên trong đựng thuốc súng. Ng cầm lấy gói thuốc súng trên rồi đón xe khách về nhà tại bản X Kh, xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An. Đến nhà, Ng cất giấu gói thuốc súng trên để dưới chân sạp trong quán tạp hóa của Ng, mục đích để sử dụng làm mìn đánh cá. Đến khoảng 19 giờ 00 phút, ngày 21 tháng 12 năm 2023, Ng đang ở nhà thì Tổ công tác Công an huyện T D vào kiểm tra, Ng đã tự nguyện lấy từ dưới chân sạp trong quán tạp hóa của Ng ra 01 gói ni lông màu đen, bên trong chứa chất bột màu xanh rêu giao nộp cho tổ công tác (Ng khai nhận số chất bột trên là thuốc súng). Tổ công tác đã Thu giữ 1,5kg thuốc phóng NC (Nitroxenlulo) thuộc nhóm vật liệu nổ, thường được dùng làm liều phóng trong các loại đạn và còn sử dụng được.

Kết luận giám định số 9556/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Viện khoan học hình sự Bộ Công an kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là thuốc phóng NC (Nitroxenlulo) thuộc nhóm vật liệu nổ, thường được dùng làm liều phóng trong các loại đạn và còn sử dụng được..”

Bản Cáo trạng số 71/CT-VKS-P1 ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố L Th Ng về tội: “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ” theo khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 305, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: L Th Ng từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 02 năm đến 03 năm, về tội “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”; miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.

Người bào chữa không có ý kiến tranh luận với bản luận tội và đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên đề nghị Hội đồng xét xử lượng hình ở mức thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo, miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T D, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T D, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo L Th Ng đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 19 giờ 00 phút ngày 21/12/2023, tại nhà ở của L Th Ng ở bản X Kh, xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An, L Th Ng đang có hành vi cất giấu trái phép 1,5 kg thuộc NC (nitroxenlulo) thuộc nhóm vật liệu nổ nhằm mục đích sử dụng. Khi Ng đang ở nhà thì bị Công an huyện T D kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện cấu thành tội: Tàng trữ trái phép vật liệu nổ. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự. Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý vật liệu nổ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, tâm lý lo lắng hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thái độ khai báo của bị cáo là thành khẩn, ăn năn hối cải, có ông nội là Lương Văn Phôm được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba, bố đẻ của bị cáo ông Lương Danh Tình được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba và được Bộ giáo dục và đào tạo tặng thưởng Huy chương vì sự nghiệp giáo dục nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt nhằm thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, không có tiền án, tiền sự, trước khi phạm tội chấp hành tốt chính sách, pháp luật và các quy định tại địa phương nơi cư trú. Bị cáo có đủ điều kiện cho hưởng án treo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên việc cách ly bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết mà để bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ cho bị cáo tu duỡng, rèn luyện bản thân, sớm trở thành công dân tốt, biết tôn trọng và tuân thủ pháp luật. Việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người đàn ông mà L Th Ng mua vật liệu nổ do L Th Ng không biết tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.

[7] Xử lý vật chứng: 1,5 kg thuốc nổ phóng NC (nitroxenlulo), (đã sử dụng 0,02kg để đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 305, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt: L Th Ng 01 (Một) năm tù nhưng được hưởng án treo thời gian thử thách là 02 (Hai) năm về tội: “Tàng trữ trái phép vật liệu nổ”, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo L Th Ng cho Ủy ban nhân dân xã Ng M, huyện T D, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

+ Giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An: Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Tình trạng các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/3/2024 giữa Cơ quan an ninh điều tra công an tỉnh Nghệ An và phòng kỹ thuật kho K70 Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An);

[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo L Th Ng.

[4] Quyền khánh cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 25/4/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh NA;
  • - VKSND huyện T D;
  • - Công an huyện T D;
  • - UBND xã Ng M;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện T D;
  • - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép vật liệu nổ (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 19/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vật liệu nổ (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ vật liệu nổ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger