TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HS-ST Ngày: 25/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quốc Hoàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Minh Tặng
- Ông Trương Ngọc Nhân
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Hồ Lun, sinh ngày 12/4/1987, tại xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: bản Ô, xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Bru –Vân Kiều; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ L(đã chết) và bà Hồ Thị C chị em ruột có 06 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có vợ là Hồ Thị N 04 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/12/2023 cho đến nay (có mặt).
2. Hồ Mão, sinh ngày 26/4/1996, tại xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: bản Ô, xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Bru - Vân Kiều; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ K(đã chết) và bà Hồ Thị M chị em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; có vợ là Hồ Thị V 02 người con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: chưa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/12/2023 cho đến nay (có mặt).
3. Hồ Hồng, sinh ngày 09/12/1977, tại xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: bản Ô, xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 1/12; dân tộc: Bru – Vân Kiều; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ É(đã chết) và bà Hồ Thị H chị em ruột có 03 người, bị cáo là con đầu trong gia đình; vợ con chưa có.
Tiền án, tiền sự: chưa;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/12/2023 cho đến nay (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Hồ L1 M1Hồ H Bà Nguyễn Thị Hương T– Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T1(Có đơn xin xét xử vắng mặt);
- Bị hại: Ông Mai Văn L2sinh năm 1983; địa chỉ: bản K - V, xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình(có mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Bà Hồ Thị N1 năm 1991; địa chỉ: bản Ô, xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình(có mặt);
- + Bà Hồ Thị V1 năm 1994; địa chỉ: bản Ô, xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình(có mặt);
- + Bà Hồ Thị H1 năm 1946; địa chỉ: bản Ô, xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình(có mặt);
- + Bà Hồ Thị B năm 1990; địa chỉ: bản Ô, xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình(có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 06/8/2023, Hồ Mếu trú tại bản Ôốc, xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình đến gặp H2 L1tại nhà của H2 L1và bảo “đi lấy thịt trâu với em, trâu em buộc rồi”, L1hỏi lại “con trâu sống hay đã chết rồi” thì M2nói “còn sống” nên Hồ L1không đồng ý thì H2 M3ra về. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, H2 L1xuống nhà H2 M3nhằm mục đích đi lấy thịt trâu về ăn. Khi đến nhà M3L1gặp Hồ M M1Hồ H1Lúc này, Hồ M Hồ L M1Hồ H1đi lấy thịt trâu về ăn, có gì Hồ M3chịu trách nhiệm thì cả 3 đều đồng ý. Đến 19 giờ cùng ngày, Hồ L H1Hồ M1đi theo Hồ M3đến khu vực đồi M thuộc bản Ôốc, xã D, huyện M, tỉnh Quảng Bình và nhìn thấy con trâu đực khoảng 10 năm tuổi của anh Mai Văn L2 bị buộc dây vào cổ và buộc vào gốc cây, Hồ M Hồ M L1giữ dây thừng con trâu, còn Hồ M H1cầm thanh kim loại mang theo đánh liên tục vào đầu con trâu cho đến khi con trâu chết. Sau đó, H2 M3dùng dao cắt thịt đùi con trâu và chia thành 4 phần cho cả 4 người về để ăn thịt.
Ngày 08/8/2023, anh L2đi tìm trâu nhưng không thấy. Ngày 11/8/2023, anh L2phát hiện con trâu của gia đình đã bị chết và làm thịt, còn lại phần đầu, sừng và phần thịt bị thối rữa để lại khu vực M nên anh L2báo đến cơ quan công an.
Sau khi bị phát hiện, H2 M3đã bỏ trốn khỏi địa phương nơi cư trú.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 con trâu đã bị chết, còn lại phần xương, sừng, thịt con trâu đã bị thối;
- - 01 thanh kim loại dài 57.5cm, đường kính 02cm, một đầu dát mỏng;
- - 01 cây dao dài 26.5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 16cm, phần rộng nhất là 05cm, phần nhỏ nhất 03cm, phần cán dao làm bằng gỗ dài 10.5cm, trên cán dao có một khoanh kim loại rộng 6.4cm;
- - 01 rựa dài 49.5cm, phần lưỡi làm bằng kim loại dài 26.5cm, phần rộng nhất là 4.4cm, phần nhỏ nhất là 2.5cm, phần cán làm bằng gỗ dài 23cm, trên cán có 01 khoanh kim loại rộng 5.7cm;
- - 01 đoạn dây thừng dài 8.04m, đường kính 1.5cm, màu nâu đỏ, một đầu dây bị thắt nút;
- - 01 bao bì màu trắng xanh, trên bao bì có ghi dòng chữ Tài Nguyên Ttrên bao bì có buộc một đoạn dây thừng màu xanh, bao bì đã qua sử dụng;
- - 01 bao bì màu trắng xanh, trên bao bì có ghi dòng chữ Duc Tho Rice, bao bì đã qua sử dụng;
- - 01 đèn pin màu đỏ đen, đường kính mặt đền 06cm, dây đội đầu màu đen, đèn pin không có không có nắp đậy pin, đèn pin đã qua sử dụng;
- - 01 đèn pin màu cam đen, đường kính mặt đền 06cm, dây đội đầu màu đen, đèn pin không có không có nắp đậy pin, đèn pin đã qua sử dụng;
- - 01 đèn pin màu tím, đường kính mặt đèn 07cm, dây đội màu đên và xanh, đèn pin đã qua sử dụng.
Tại kết luận định giá tài sản số 26/KLĐG-HĐĐG ngày 26/9/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện M kết luật: giá trị của 01 con trâu đực, 10 năm tuổi, long màu sẫm, trọng lượng khoảng 600 kg tại thời điểm bị mất trộm (từ 22/7/2023 đến 06/8/2023) là 45.000.000 đồng.
Ngày 26/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M khởi tố các bị cáo để điều tra.
Ngày 11/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M tách vụ án hình sự đối với Hồ M3
Tại cáo trạng số 17/CT-VKSMH ngày 26/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa truy tố các bị cáo Hồ L1 M1Hồ H1về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo Hồ L1 M1Hồ H1lần lượt thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt;
- Người bào chữa cho các bị cáo: thống nhất với các điều luật, tình tiết giảm nhẹ tại Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo có một mức hình phạt nhẹ tương xứng với hành vi phạm tội cho các bị cáo được hưởng án treo;
- Bị hại ông Mai Văn L3 có ý kiến tranh luận, không yêu cầu về trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận, tất cả đều thừa nhận có ăn thịt trâu do các bị cáo đem về nhưng không biết thịt trâu đó do phạm tội mà có, không biết sự việc phạm tội của các bị cáo.
- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong gia đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Cáo Trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa truy tố các bị cáo H3 L3Hồ M1Hồ H1về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Riêng đối với H2 M3sau khi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương, không rõ ở đâu nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M quyết định truy nã bị can, ngày 11/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M quyết định tách vụ án hình sự để xác minh, điều tra về hành vi của H2 M3theo quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự:
+ Xử phạt bị cáo H2 L1Hồ Mão và bị cáo H2 H1từ 12 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án và xử lý vật chứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng và chứng cứ trong hồ sơ vụ án: trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng như các chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[1.2] Đối với bị cáo H2 M3hành vi của bị cáo đồng phạm với vai trò là người khởi xướng, chủ mưu cùng với các bị cáo Hồ L M1và Hồ H khi thực hiện hành vi phạm tội, H2 M3đã bỏ trốn khỏi địa phương, không rõ đi đâu, làm gì. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M truy nã bị can, ngày 11/3/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M tách vụ án hình sự để xác minh, điều tra về hành vi của H2 M3là đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, tại phiên tòa hôm nay, việc vắng mặt Hồ M3không ảnh hưởng đến việc xác định tội danh của các bị cáo Hồ L M1và Hồ H
[2] Những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo:
Các bị cáo Hồ L M1Hồ H1đều khai nhận: vào khoảng 19 giờ ngày 06/8/2023, Hồ M M1và Hồ H thực hiện hành vi lợi dụng sơ hở trong quá trình chăn thả trâu của anh Mai Văn L4 đã cùng nhau lén lút giết trâu của anh L2nhằm mục đích lấy thịt chia nhau làm thực phẩm để ăn, gây thiệt hại cho anh L2với giá trị 45.000.000 đồng. Việc thực hiện hành vi phạm tội do H2 M3khởi xướng và được Hồ L M1Hồ H1tiếp nhận ý chí và đồng ý cùng thực hiện hành vi phạm tội.
Các bị cáo Hồ L1 M1Hồ H1có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt của anh L2là xâm phạm quyền sở hữu của người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện thông qua việc lời dụng sơ hở, đêm tối để chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa truy tố các bị cáo ra trước phiên tòa ngày hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hóa đối với các bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân, quyền sở hữu là một trong những quyền thiêng liêng gắn với mỗi cá nhân, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong lĩnh vực luật hình sự, những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, đáp ứng quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.
Trong vụ án, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp đồng phạm. Tuy nhiên, các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn, không phân hóa hành vi, vai trò của từng bị cáo khi phạm tội.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, các bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi bị phát hiện hành vi phạm tội, các bị cáo gồm Hồ L M1và Hồ H1đã tự nguyện bồi thường thiệt hại với số tiền 45.000.000 đồng cho bị hại. Bên cạnh đó, ngày 01/3/2024 và tại phiên tòa hôm nay bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo là người đồng bào dân tộc ít người nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Hội đồng xét xử có cân nhắc, xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện là phải chịu thời gian thử thách dưới sự giám sát của chính quyền địa phương mà không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung
[5] Về hình phạt bổ sung, xét các bị cáo thuộc thành phần lao động tự do, làm thuê kiếm sống, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- 01 con trâu đã bị chết, còn lại phần xương, sừng, thịt con trâu đã bị thối, ngày 17/8/2023, Công an xã D trao trả lại vật chứng trên cho anh L2là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề cập xử lý lại.
- Đối với các vật chứng: 01 thanh kim loại dài 57.5cm, đường kính 02cm, một đầu dát mỏng; 01 cây dao dài 26.5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 16cm, phần rộng nhất là 05cm, phần nhỏ nhất 03cm, phần cán dao làm bằng gỗ dài 10.5cm, trên cán dao có một khoanh kim loại rộng 6.4cm; 01 rựa dài 49.5cm, phần lưỡi làm bằng kim loại dài 26.5cm, phần rộng nhất là 4.4cm, phần nhỏ nhất là 2.5cm, phần cán làm bằng gỗ dài 23cm, trên cán có 01 khoanh kim loại rộng 5.7cm; 01 đoạn dây thừng dài 8.04m, đường kính 1.5cm, màu nâu đỏ, một đầu dây bị thắt nút; 01 bao bì màu trắng xanh, trên bao bì có ghi dòng chữ Tài Nguyên T trên bao bì có buộc một đoạn dây thừng màu xanh, bao bì đã qua sử dụng; 01 bao bì màu trắng xanh, trên bao bì có ghi dòng chữ Duc Tho Rice, bao bì đã qua sử dụng; 01 đèn pin màu đỏ đen, đường kính mặt đền 06cm, dây đội đầu màu đen, đèn pin không có không có nắp đậy pin, đèn pin đã qua sử dụng; 01 đèn pin màu cam đen, đường kính mặt đền 06cm, dây đội đầu màu đen, đèn pin không có không có nắp đậy pin, đèn pin đã qua sử dụng; 01 đèn pin màu tím, đường kính mặt đèn 07cm, dây đội màu đên và xanh, đèn pin đã qua sử dụng. Đây là các vật chứng liên quan đến vụ án, có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội, là công cụ để các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo H2 L1bị cáo Hồ M1và bị cáo Hồ H
Tuyên bố các bị cáo H2 L1bị cáo Hồ M1và bị cáo H2 H1phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt: bị cáo Hồ L 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn tháng) kể từ ngày 25/4/2024);
Xử phạt: bị cáo Hồ M 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn tháng) kể từ ngày 25/4/2024);
Xử phạt: bị cáo Hồ H 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn tháng) kể từ ngày 25/4/2024);
Giao các bị cáo cho UBND, huyện M, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo Hồ L M1Hồ Hồng thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 thanh kim loại dài 57.5cm, đường kính 02cm, một đầu dát mỏng; 01 cây dao dài 26.5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 16cm, phần rộng nhất là 05cm, phần nhỏ nhất 03cm, phần cán dao làm bằng gỗ dài 10.5cm, trên cán dao có một khoanh kim loại rộng 6.4cm; 01 rựa dài 49.5cm, phần lưỡi làm bằng kim loại dài 26.5cm, phần rộng nhất là 4.4cm, phần nhỏ nhất là 2.5cm, phần cán làm bằng gỗ dài 23cm, trên cán có 01 khoanh kim loại rộng 5.7cm; 01 đoạn dây thừng dài 8.04m, đường kính 1.5cm, màu nâu đỏ, một đầu dây bị thắt nút; 01 bao bì màu trắng xanh, trên bao bì có ghi dòng chữ Tài Nguyên T trên bao bì có buộc một đoạn dây thừng màu xanh, bao bì đã qua sử dụng; 01 bao bì màu trắng xanh, trên bao bì có ghi dòng chữ Duc Tho Rice, bao bì đã qua sử dụng; 01 đèn pin màu đỏ đen, đường kính mặt đền 06cm, dây đội đầu màu đen, đèn pin không có không có nắp đậy pin, đèn pin đã qua sử dụng; 01 đèn pin màu cam đen, đường kính mặt đền 06cm, dây đội đầu màu đen, đèn pin không có không có nắp đậy pin, đèn pin đã qua sử dụng; 01 đèn pin màu tím, đường kính mặt đèn 07cm, dây đội màu đên và xanh, đèn pin đã qua sử dụng
Số vật chứng trên đã được chuyển giao và hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện M Thi hành án dân sự huyện M.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Hồ L M1Hồ H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quốc Hoàn |
Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 19/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
