Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HNGĐPT

Ngày: 24/7/2024.

V/v: “Chia tài sản khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Tuân

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Quý Sửu và bà Lê Thị Hồng Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Dương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Lê Thị Hương Giang, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 12/2024/HNGĐ-PT ngày 04/5/2024 về việc tranh chấp Chia tài sản khi ly hôn.

Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên có kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐ-PT ngày 06/6/2024; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phan Quốc T, sinh năm 1970. (có mặt)

Bị đơn: Bà Triệu Thị H, sinh năm 1968. (có mặt)

Cùng địa chỉ: Xóm L, xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Quốc B, sinh năm 1971. (có mặt)

Địa chỉ: T, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Trong vụ án này còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo; không bị kháng nghị, Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, nội dung vụ án tóm tắt như sau:

Ông T và bà H đăng ký kết hôn năm 1987 tại UBND xã C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vợ chồng có 04 con chung là Phan Văn Đ, sinh năm 1988, Phan Thị L sinh năm 1990, Phan Thị V sinh năm 1993, Phan Văn K sinh năm 1996.

Về tài sản chung ông và bà H có các tài sản sau:

  • 01 xe ô tô mang tên ông (xe của con trai là Phan Văn Đ nhờ đứng tên).
  • Thửa đất số 407 tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D có địa chỉ: xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích là 102.571 m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BV753110 do UBND huyện V cấp ngày 24 tháng 10 năm 2013 và cây Keo trồng trên đất.
  • Thửa đất số 528 tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D, có địa chỉ: xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích là 32.198m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BV753279 do UBND huyện V cấp ngày 24 tháng 10 năm 2023.
  • Thửa đất số 427 tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D có địa chỉ: xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích là 19.919m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BV753111 (thửa đất này ông Nguyễn Quốc B, sinh năm 1971. Địa chỉ: T, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nhờ vợ chồng đứng tên).
  • Ngoài ra ông còn có 3.790m² đất trồng lúa còn lại tại thửa đất số 0 tờ bản đồ số 17 có địa chỉ tại xóm L, xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H000186, mang tên Phan Quốc T; 1.020m² đất trồng lúa còn lại tại thửa đất số 0 tờ bản đồ số 0 có địa chỉ tại xóm L, xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: H000187 mang tên Phan Quốc T. Nguồn gốc nhận quyền sử dụng đất do thừa kế quyền sử dụng đất. Đây là tài sản riêng của ông nhận thừa kế của bố đẻ ông, không phải tài sản chung của 2 vợ chồng.

Về nợ chung: Ông và bà H vay Ngân hàng chính sách xã hội huyện V số tiền 70.000.000 đồng; vay Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện V số tiền là 40.000.000 đồng, vay Ngân hàng TMCP V1 (V2) tại thành phố T số tiền 383.900.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, ông T không đồng ý đối với yêu cầu của bà H về việc chia đôi thửa đất số 528, tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D, có địa chỉ: xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích là 32.198m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BV753279 do UBND huyện V cấp ngày 24 tháng 10 năm 2023 mang tên ông Phan Quốc T và bà Triệu Thị H và thửa đất số 407, tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D có địa chỉ: xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích là 102.571 m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BV753110 do UBND huyện V cấp ngày 24 tháng 10 năm 2013 mang tên ông Phan Quốc T và bà Triệu Thị H. Ngoài ra, thửa đất số 427 tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D mặc dù cấp cho ông T và bà H nhưng thực tế thửa đất này là của ông Nguyễn Quốc B, nên không nhất trí với yêu cầu của bà H về việc chia đôi thửa đất này.

Bị đơn bà Triệu Thị H trình bày:

Bà đồng ý với phần trình bày của ông T về thời gian kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung.

Bà đề nghị Tòa án giải quyết chia đôi tài sản chung vợ chồng gồm các tài sản sau:

  • Thửa đất số 407 tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D có địa chỉ: xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích là 102.571 m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BV753110 do UBND huyện V cấp ngày 24 tháng 10 năm 2013 mang tên Phan Quốc T và Triệu Thị H.
  • Thửa đất số 528 tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D, có địa chỉ: xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích là 32.198m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BV753279 do UBND huyện V cấp ngày 24 tháng 10 năm 2023 mang tên Phan Quốc T và Triệu Thị H do thửa đất ở xa khó sử dụng.
  • Thửa đất số 427 tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D có địa chỉ: xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích là 19.919m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BV753111 mang tên Phan Quốc T và Triệu Thị H.

Ngoài ra, bà không có ý kiến gì khác về nợ chung và phần trích chia giá trị cho ông H và các con theo quyết định của Bản án sơ thẩm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Quốc B trình bày:

Ông có quan hệ với ông T và bà H do trước đây bố ông và bố ông T kết nghĩa anh em nên giữa ông và ông T, bà H có mối quan hệ thân thiết. Việc ông T và bà H xảy ra mâu thuẫn ông đã biết từ lâu nhưng việc đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn ông mới được biết gần đây. Nay ông T và bà H xin ly hôn ông đề nghị Tòa án giải quyết nội dung sau:

Do có nhu cầu sử dụng đất nên năm 2007 khi nghe tin anh Triệu Văn C địa chỉ xóm L, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên có nhu cầu chuyển nhượng thửa đất trồng rừng số 427 tờ bản đồ địa chính số 2 xã D, diện tích 19.919m² nên ông đã mua, nhận chuyển nhượng với giá thỏa thuận là 8.000.000 đồng. Do ông không phải là người ở tỉnh Thái Nguyên nên theo quy định không được nhận chuyển nhượng nên ông có nhờ ông T và bà H làm thủ tục chuyển nhượng mang tên hộ (việc nhờ ông T, bà H đứng tên các bên không làm giấy tờ thỏa thuận gì). Sau khi được UBND huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông đã mua K1, mua phân và đưa tiền cho ông T và bà H thuê người đào hố trồng cây phát dọn và trông nom và thỏa thuận sau khi thu hoạch sẽ chia tiền khai thác cây cho vợ chồng ông T và bà H 1/2. Từ khi nhận chuyển nhượng đã trồng và thu hoạch 2 vụ, giữa hai bên không có tranh chấp gì. Năm 2021 ông chuyển đổi cây trồng sang trồng cây Q nhưng do không hợp đất nên cây không phát triển và chết, hiện nay trên đất chỉ có cây mọc tự nhiên không có tài sản gì. Nay ông T và bà H ly hôn ông đề nghị Tòa án xem xét giải quyết giao cho ông T thửa đất trên để khấu trừ vào phần tài sản chung của vợ chồng của ông T bà H, sau này giữa ông và ông T sẽ tự thỏa

thuận giải quyết với nhau. Ông nhất trí với quyết định của Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai.

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa sơ thẩm người làm chứng ông Triệu Văn C trình bày:

Ông có quan hệ với ông T và bà H trước đây là người cùng xóm ở Làng M, xã D, năm 2008 thì gia đình ông chuyển đến xóm Làng Kèn, xã L sinh sống. Việc ông T và bà H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn ông mới được biết gần đây do được Tòa án triệu tập. Nay ông T và bà H xin ly hôn ông trình bày nội dung sau:

Do không có nhu cầu sử dụng đất và chuẩn bị chuyển nhà đến nơi khác sinh sống nên năm 2007 ông có chuyển nhượng cho anh Nguyễn Quốc B, sinh năm 1971, địa chỉ: T, thị trấn B, huyện Y, tỉnh Bắc Giang thửa đất trồng rừng số 427 tờ bản đồ địa chính số 2 xã D, diện tích 19.919m². Diện tích đất này trước khi chuyển nhượng cho ông B ông nhận chuyển nhượng của ông Lại Xuân Q1 ở xóm Làng Mười, xã D là 6.000.000 đồng thửa đất này ông Q1 chưa kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chưa được cơ quan nào cấp giấy chứng nhận. Tại thời điểm chuyển nhượng cho ông B năm 2007 ông cũng chưa kê khai làm thủ tục chuyển nhượng, khi chuyển nhượng cho ông B, ông và ông B thỏa thuận chuyển nhượng giá trị thửa đất trên là 8.000.000 đồng, trên thửa đất lúc đó còn có một số mầm cây mỡ tái sinh. Việc chuyển nhượng hoàn toàn với ông B, ông là người trực tiếp nhận tiền và giao đất cho ông B không liên quan gì đến ông T và bà H. Sau này ông được biết do ông B là người ở tỉnh khác không được nhận chuyển nhượng đất lâm nghiệp nên đã nhờ ông T và bà H đứng tên đối với thửa đất trên và cùng nhau trồng cây trên thửa đất của ông B và chia đều sản phẩm. Việc mua bán chuyển nhượng với ông B hai bên có viết giấy chuyển nhượng bằng tay, giấy này ông B giữ. Sau khi chuyển nhượng thửa đất trên cho ông B, ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay chưa và chuyển nhượng cho ai khác không ông không nắm được.

Tại bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

  1. Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Phan Quốc T và bà Triệu Thị H.
  2. Về con chung: Các con của ông Phan Quốc T và bà Triệu Thị H là Phan Văn Đ, sinh năm 1988, Phan Thị L sinh năm 1990, Phan Thị V sinh năm 1993, Phan Văn K sinh năm 1996 đã trưởng thành, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Xác định tổng giá trị tài sản chung của ông Phan Quốc T và bà Triệu Thị H là 1.081.152.000 đồng, chia đều cho 02 người; Tài sản chung của ông Phan Quốc T, bà Triệu Thị H, chị Phan Thị L và anh Phan Văn K có tổng trị giá là 431.200 000 đồng chia đều cho 04 người. Cụ thể:

    3.1 Giao cho ông Phan Quốc T quản lý sử dụng:

    • 01 sân lát gạch đỏ xây dựng năm 2006 có diện tích 118m² (do ông T bà H xây dựng) trên thửa số 05, tờ bản đồ số 82 bản đồ địa chính xã D theo Giấy chứng nhận QSD đất số AG 064636 cấp ngày 08/6/2007 mang tên ông Phan Quốc T, loại

đất: Đất ở tại nông thôn. (Nguồn gốc do nhận thừa kế từ bố đẻ của ông T là ông Phan Tiến H1) có trị giá là 3.000.000 đồng.

  • 72.745m² đất tại thửa đất số 407 tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D có địa chỉ: xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích là 102.571 m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BV753110 do UBND huyện V cấp ngày 24 tháng 10 năm 2013 mang tên ông Phan Quốc T và bà Triệu Thị H có trị giá 581.960.000 đồng, theo trích đo hiện trạng thửa đất tháng 11/2023 có vị trí từ điểm: 1, 2, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 1.

    (có sơ đồ đo vẽ ranh giới mốc giới thửa đất kèm theo)

Tổng giá trị tài sản ông T được hưởng là 584.960.000 đồng.

3.2 Giao cho bà Triệu Thị H quản lý sử dụng:

  • Thửa đất số 528, tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D, có địa chỉ: xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích là 32.198m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BV753279 do UBND huyện V cấp ngày 24 tháng 10 năm 2023 mang tên ông Phan Quốc T và bà Triệu Thị H có trị giá 257.584.000 đồng;
  • 29.826m² tại thửa đất số 407, tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D có địa chỉ: xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích là 102.571 m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BV753110 do UBND huyện V cấp ngày 24 tháng 10 năm 2013 mang tên ông Phan Quốc T và bà Triệu Thị H có trị giá 238.608.000 đồng, theo trích đo hiện trạng thửa đất tháng 11/2023 có vị trí từ điểm: 1, 2, 3, 4, 5, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 1.
  • 12.320 cây Keo có đường kính bình quân từ 5-10cm có trị giá 431.200.000 đồng trồng trên diện tích 29.826m² tại thửa đất số 407 tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D có địa chỉ: xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên cho bà H theo trích đo hiện trạng tháng 11/2023 có các vị trí cụ thể:
    • Vị trí 1 có 12.178 cây Keo trên diện tích đất 15050,9m², từ điểm: 1, 2, 3, 33, 32, 31, 30, 28, 29, 1.
    • Vị trí 2 có 142 cây Keo trên diện tích đất 858,4m², từ điểm 4, 5, 15, 16, 17, 18, 4.

Tổng giá trị tài sản bà H được hưởng là 927.392.000 đồng (trong đó có 496.192.000 đồng là tài sản chung của hai vợ chồng và 431.200.000 là tài sản chung của ông T và bà H, chị L và anh K).

4. Buộc người nhận phần tài sản chung bằng hiện vật nhiều hơn phải trích chia giá trị cho người nhận phần tài sản chung bằng hiện vật ít hơn. Cụ thể:

  • Bà Triệu Thị H phải trích chia cho: Cho ông Phan Quốc T 63.416.000 đồng, cho chị Phan Thị L 107.800.000 đồng, cho anh Phan Văn K 107.800.000 đồng.
  • Phần giá trị tài sản chung bà Triệu Thị H được chia sau khi trích chia còn lại là 648.376.000 (sáu trăm bốn mươi tám triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn) đồng.

(Ông Phan Quốc T, bà Triệu Thị H có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục chia tách, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật).

5. Về trích chia công sức đóng góp, duy trì và làm tăng giá trị tài sản:

  • Buộc ông Phan Quốc T trích chia cho bà Triệu Thị H 18.900.850 (mười tám triệu chín trăm nghìn tám trăm năm mươi) đồng tương ứng với 5% trong tổng giá trị khối tài sản của ông T được thừa kế của bố đẻ Phan Tiến H1 378.170.000 đồng.

6. Về nợ chung phân định trách nhiệm thanh toán nợ như sau:

  • Ông Phan Quốc T và bà Triệu Thị H mỗi người có trách nhiệm trả cho Ngân hàng C 10.000.000 (mười triệu) đồng và lãi phát sinh theo Hợp đồng hợp đồng vay vốn số: 2000083963 khi đến hạn trả nợ cuối cùng ngày 15/02/2025.
  • Ông Phan Quốc T và bà Triệu Thị H mỗi người có trách nhiệm trả cho Ngân hàng N 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng tiền gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 8504-LAV- 202000042 khi đến hạn trả nợ cuối cùng ngày 08/01/2025.
  • Ông Phan Quốc T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V1 (V2): 383.900.000 (ba trăm tám mươi ba triệu, chín trăm nghìn) đồng và lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2302068276705 ngày 09/02/2023.

7. Ghi nhận sự thỏa thuận của bà Triệu Thị H, anh Phan Văn Đ, chị Triệu Thị N, chị Phan Thị V về tài sản của anh Đ, chị N, chị V trồng trên diện tích đất 29.826m² tại thửa đất số 407 tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D có địa chỉ: xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên chia cho bà H khi cây đến tuổi khai thác anh Đ, chị N, chị V để trả đất cho bà H quản lý sử dụng cụ thể:

Anh Đ và chị N có trách nhiệm khai thác 3.200 cây Bạch đàn trên diện tích đất 5238,7 m² ở vị trí 3, 4, 18, 19, 20, 21, 32, 33, 3; Chị V có trách nhiệm khai thác 800 cây Keo trên diện tích đất 8687m² ở vị trí 28, 30, 31, 32, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 09/4/2024 bị đơn bà Triệu Thị H có đơn kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

Nội dung kháng cáo, bị đơn đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chia đôi các thửa đất số 528, tờ bản đồ số 02 vì thửa đất này ở xa, khó sử dụng; đề nghị chia đôi các thửa đất số 407; 427, tờ bản đồ số 02. Về lý do yêu cầu chia các thửa đất trên bị đơn trình bày như nội dung đã trình bày tại Toà án cấp sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và các ý kiến trình bày tại cấp sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa phiên toà, Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên bản án dân sự sơ

thẩm số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Bị đơn kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung:

Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy:

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Triệu Thị H không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm về việc giao cho bà H quản lý sử dụng thửa đất số 528 tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D, có địa chỉ: xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, tổng diện tích là 32.198m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện V cấp ngày 24 tháng 10 năm 2023 mang tên Phan Quốc T và Triệu Thị H do thửa đất ở xa khó sử dụng, đề nghị chia đôi thửa đất này. Bà H cũng không đồng ý với Bản án sơ thẩm về việc giao cho bà quản lý sử dụng 29.826 m² tại thửa đất số 407 tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D có địa chỉ: xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích là 102.571 m², giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND huyện V cấp ngày 24 tháng 10 năm 2013 mang tên Phan Quốc T và Triệu Thị H, đề nghị chia đôi thửa đất này.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Về nguồn gốc thửa đất số 528 và thửa đất số 407, tại phiên tòa các đương sự đều thừa nhận có nguồn gốc của bố mẹ đẻ ông T để lại, khi kê khai xác định là tài sản chung của vợ chồng. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh thẩm định và chia cho các đương sự quản lý sử dụng và yêu cầu các đương sự làm các thủ tục chuyển nhượng, xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật. Do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Triệu Thị H.

[3] Đối với thửa đất số 427 tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D có địa chỉ: xã D, huyện V, tỉnh Thái Nguyên với tổng diện tích là 19.919m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phan Quốc T và Triệu Thị H: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bà H, ông T cũng công nhận có việc ông B nhờ vợ chồng ông bà đứng tên, cây giống, phân bón ông B mua, trông coi phát dọn vợ chồng ông bà làm, cùng nhau trồng cây, đã khai thác hai lần và chia đôi tiền. Bà H cho rằng đã thanh toán tiền cho ông B 8.000.000 đồng để lấy thửa đất này nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh đã thanh toán tiền cho ông B. Ông T, ông B xác định không có việc hai bên đã thanh toán cho nhau 8.000.000 đồng như bà H trình bày. Phía ông B cung cấp cho Tòa án giấy thỏa thuận chuyển nhượng đất rừng ngày 18/02/2007 giữa ông và ông Triệu Văn C có ông Phan Quốc T là người làm chứng. Như vậy, có căn cứ xác định thửa đất số 427 tờ bản đồ số 2 bản đồ địa chính đất lâm nghiệp xã D có địa chỉ: xã D, huyện V,

tỉnh Thái Nguyên, diện tích là 19.919m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Phan Quốc T và Triệu Thị H thuộc quyền sử dụng của ông B, không phải là tài sản chung vợ chồng, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà H nội dung này.

Trường hợp này, Toà án cấp sơ thẩm phải hướng dẫn ông B có đơn yêu cầu độc lập để giải quyết trong cùng vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết đối với thửa đất này và nhận định các đương có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác là không giải quyết triệt để vụ án. Toà án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.

[4] Về khoản nợ chung vợ chồng: Toà án cấp sơ thẩm không hướng dẫn các chủ nợ làm đơn yêu cầu độc lập, thông báo nộp tiền tạm ứng án phí và thụ lý giải quyết, nhưng lại quyết định buộc vợ chồng phải trả các khoản nợ là giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự.

Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, ông Phan Quốc T đã tự nguyện nộp số tiền nợ Ngân hàng N, chi nhánh huyện V, đã được xoá thế chấp ngày 19/6/2024. Đối với khoản tiền 383.900.000 đồng ông T phải trả cho Ngân hàng TMCP V1 và khoản tiền ông T bà H mỗi người phải trả cho Ngân hàng C chi nhánh huyện V 10.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh khi đến hạn trả nợ cuối cùng ngày 15/02/2025. Sau khi xét xử sơ thẩm Ngân hàng và các đương sự không kháng cáo nội dung này. Toà án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm. Tại phiên tòa phúc thẩm ông T xác định đã trả toàn bộ số tiền 40.000.000 đồng cho Ngân hàng N Chi nhánh V.

[5] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Triệu Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn bà Triệu Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Triệu Thị H; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Triệu Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền bà đã nộp tạm ứng án phí tại Biên lai thu tiền số 0006580 ngày 15/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Võ Nhai.
  3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND huyện V;
  • - Chi cục THADS huyện V;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Đặng Minh Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/HNGĐPT ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 19/2024/HNGĐPT
  • Quan hệ pháp luật: Chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phan quốc t và triệu thị h
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger