TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HS-PT Ngày 24 - 6 - 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quản Hữu Chiến.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Tuấn Minh, ông Đỗ Tuấn Long.
Thư ký phiên tòa: Ông Mai Thanh Nghị - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 30/2024/TLHS-PT ngày 05 tháng 06 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXPT ngày 11 tháng 6 năm 2024. Do có kháng cáo của bị cáo Lèo Văn C, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2024/HSST ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lèo Văn C; sinh ngày 15 tháng 8 năm 1962 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản P, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lèo Văn Y (đã chết) và bà Lường Thị N (đã chết); Vợ là Lò Thị H (đã chết), vợ hiện nay là Lường Thị L. Bị cáo có 06 con (lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 2010). Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2024 đến nay. Có mặt
Ngoài ra còn có các bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo Tòa không triệu tập.
- Bị cáo: Lèo Thị N1; sinh ngày 30 tháng 10 năm 1992 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lèo Văn C và bà Lò Thị H (đã chết); bị cáo có chồng là Vì Văn C1, có 03 con (lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2019).
- Bị cáo: Lèo Thị N2; sinh ngày 15 tháng 10 năm 1986 tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lèo Văn C và bà Lò Thị H (đã chết); bị cáo có chồng là Hoàng Văn B, có 02 con (lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2008).
- Nguyên đơn dân sự.
Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La. Địa chỉ: Tiểu khu D, thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La. Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Tiến Đ - Chủ tịch.
Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Khắc H1 - Chức vụ: Trưởng phòng Nông Nghiệp & Phát triển Nông Thôn huyện M, tỉnh Sơn La (theo giấy ủy quyền số 1318/UQ-UBND ngày 20/4/2024).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + UBND xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Địa chỉ: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Người đại diện theo pháp luật: Ông Lò Văn L1 - Chủ tịch.
- +Ông Hoàng Văn B, sinh năm 1980. Địa chỉ: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La.
- + Ông Vì Văn C1, sinh năm 1987. Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- + Ông Tòng Văn T, sinh năm 1977 và bà Hoàng Thị D, sinh năm 1980. Địa chỉ: bản P, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La. Hiện đang chấp hành án tại Trại tạm giam công an tỉnh S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2003, hộ gia đình Lèo Văn C, trú tại bản Pon Chằm, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La được Ủy ban nhân dân huyện M giao quản lý, bảo vệ khu rừng phòng hộ tại khu L, thuộc bản Chằm, nay là bản Pon Chằm, xã M, huyện M với diện tích là 7.300m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00037QSDĐ/77/H-QĐ-UB/2004 do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày 02/3/2004 mang tên hộ Lèo Văn C.
Thấy trồng cây cà phê có giá trị kinh tế cao nên Lèo Văn C nảy sinh ý định phá khu rừng được giao quản lý, bảo vệ để lấy đất trồng cây cà phê. Khoảng cuối tháng 5/2023, C gọi điện thoại cho con gái là Lèo Thị N2, sinh năm 1986, trú tại bản N, xã C, huyện M và Lèo Thị N1, sinh năm 1992, trú tại bản Nà Cà, xã M, huyện M đến nhà bàn bạc, thống nhất việc phá diện tích rừng được giao để lấy đất trồng cây cà phê, sau khi cùng nhau phá xong thì sẽ chia làm 03 mảnh đều nhau, N2 và N1 đồng ý. Đến đầu tháng 6/2023, C cùng N2 và
N1 đến khu rừng trên, C mang theo 01 con dao dài 52cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 22cm, lưỡi dao dài 30cm; N1 mang theo 01 con dao dài 51cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 21,5cm và N2 mang theo 01 con dao dài 46cm cả chuôi, chuôi dao bằng nhựa màu trắng dài 13,5cm để tiến hành chặt phá các cây rừng tự nhiên (bao gồm các cây vối thuốc, dẻ, chẹo, lành ngạnh...). Trong thời gian 03 ngày liên tiếp, C, N2 và N1 đã chặt phá, hủy hoại toàn bộ diện tích rừng được giao quản lý, bảo vệ.
Khoảng 10 ngày sau, C cùng N2, N1, Hoàng Văn B (là chồng của N2) và Vì Văn C1 (là chồng của N1) đến khu rừng đã chặt phá để tiến hành đốt, dọn. Chực sử dụng bật lửa ga vỏ bằng nhựa màu xanh châm vào bó đóm (được chẻ từ tre ngâm đã khô do C chuẩn bị từ trước) tiến hành đốt, B và C1 đứng canh lửa ở phía trên đỉnh rừng để tránh lửa lan vào khu rừng bên cạnh còn N2 và N1 dọn dẹp phía giáp với nương cà phê của Lèo Văn K. Chực tiến hành đốt từ khoảng 17 giờ 00 phút đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày thì đốt xong.
Khoảng 02 ngày sau, Hoàng Thị D, trú cùng bản (có rừng được giao quản lý, bảo vệ tiếp giáp bên trái khu rừng Chực được giao) đến nhà rủ C cùng đi làm đường tại khu rừng đã phá, C đồng ý. Sau đó, C gọi điện thoại cho N2 và N1 cùng đi làm đường. Ngày hôm sau, C, N2, N1, D, Tòng Văn T (chồng của D) cùng làm đường trong thời gian 01 ngày thì xong. Sau khi làm đường khoảng 03 ngày, C cùng N2 và N1 cùng nhau đến khu rừng đã phá để tiến hành đo, chia đất thành 03 mảnh, mỗi người 01 mảnh. Sau đó C, N2 và N1 đã trồng cây cà phê trên mảnh đất được chia.
Ngày 11/9/2023, hành vi phá rừng của C và N2, N1 bị phát giác Hạt Kiểm lâm huyện M kiểm tra xác minh Chực, N1 và N2 đã khai nhận toàn bộ hành vi chặt phá rừng để trồng cây cà phê.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 chiếc cuốc dài 104cm cả cán, cán bằng gỗ dài 101cm, lưỡi cuốc có kích thước 22cm x 09cm, đã qua sử dụng;
- - 01 con dao dài 52cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 22cm, lưỡi dao dài 30cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 04cm, qua sử dụng;
- - 01 chiếc cuốc dài 66cm cả cán, cán bằng gỗ, lưỡi cuốc rộng 16cm, cao 17cm, đã qua sử dụng;
- - 01 con dao dài 51cm cả chuôi, chuôi dao bằng gỗ dài 21,5cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 05cm, qua sử dụng;
- - 01 chiếc cuốc dài 96cm cả cán, cán bằng gỗ, lưỡi cuốc rộng 25cm, cao 12cm, đã qua sử dụng;
- - 01 con dao dài 46cm cả chuôi, chuôi dao bằng nhựa màu trắng dài 13,5cm, bản rộng nhất của lưỡi dao là 4,5cm, lưỡi dao bị hoen rỉ, đã qua sử dụng.
Ngày 12/9/2023, Hạt Kiểm lâm huyện M phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành khám nghiệm hiện trường, đo diện tích rừng bị chặt phá. Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: diện tích rừng bị thiệt hại thuộc khu L, thuộc bản P, xã M, huyện M. Tổng diện tích rừng bị chặt phá hoàn toàn là 4.468m². Căn cứ hồ sơ giao đất, giao rừng năm 2004 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00037QSDĐ/77/H-QĐ-UB/2004 do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày 02/3/2004 mang tên hộ Lèo Văn C. Vị trí rừng bị chặt phá tại thuộc lô n3, khoảnh 2, tiểu khu C và lô n4, khoảnh 2, tiểu khu C do Tòng Văn T và Lèo Văn C quản lý.
Xác định số lượng lâm sản bị thiệt hại: Tổng số cây bị chặt hạ là 449 cây (cây gỗ bất cập phân là 124 cây; cây gỗ đã bị chặt đưa ra khỏi hiện trường là 301 cây; cây gỗ đã bị chặt còn lại tại hiện trường là 13 cây có khối lượng 0,922m³ gỗ tròn thông thường; cây gỗ chưa bị chặt là 11 cây)
Ngày 20/9/2023, Hạt Kiểm lâm huyện M ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 51/QĐ - HKL trưng cầu giám định viên tư pháp lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn - Chi cục kiểm lâm S về phương pháp đo diện tích; Loại rừng, trạng thái rừng, chủ rừng đối với diện tích rừng bị hủy hoại tại khu L, thuộc bản P, xã M, huyện M.
Tại bản kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp số 05-2023/KL/GĐCN ngày 15/10/2023 kết luận:
“1. Xác định phương pháp đo đạc diện tích: Phương pháp thực hiện xác định diện tích vi phạm nêu trong Biên bản kiểm tra, xác minh hiện trường là đúng với phương pháp xác định diện tích rừng bị thiệt hại theo Tiêu chuẩn Việt Nam 13458:2021 (Viết tắt là: TCVN 13458:2021) do T1 biên soạn.
2. Vị trí, loại rừng: Kết quả đối chiếu, chồng xếp lớp bản đồ thể hiện khu vực vi phạm do Lèo Văn C, Lèo Thị N2 và Lèo Thị N1 chặt phá lên nền bản đồ giao đất giao rừng xã M năm 2004; bản đồ rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đã được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018 có kết quả:
- - Theo dữ liệu bản đồ giao đất, giao rừng xã M năm 2004:
- + Vị trí: Khu vực vi phạm nằm trong lô n3 và lô n4 thuộc khoảnh 2, tiểu khu C.
- + Loại rừng: Rừng phòng hộ.
- - Theo bản đồ rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đã được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018:
- + Vị trí: Khu vực vi phạm nằm trong lô 52 và lô 54 thuộc khoảnh 2, tiểu khu C.
- + Loại rừng: Quy hoạch là rừng sản xuất.
3. Trạng thái rừng: Hiện trạng tại thời điểm giám định: Tại thời điểm giám định khu vực vi phạm có hiện trạng là đất trống, không có rừng (ký hiệu: DT1) và đã trồng cây cà phê.
- - Trạng thái rừng và đất lâm nghiệp trong bản đồ kiểm kê rừng giai đoạn 2013 - 2016: Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh phục hồi (ký hiệu: TXP).
- - Trạng thái rừng và đất lâm nghiệp trong bản đồ rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đã được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018: Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh phục hồi (ký hiệu: TXP).
- - Trạng thái rừng theo dữ liệu bản đồ theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp năm 2022 huyện M: Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo (Ký hiệu: TXN).
4. Chủ rừng:Theo dữ liệu bản đồ giao đất, giao rừng xã M năm 2004: Lô n3, khoảnh 2, tiểu khu C do Tòng Văn T quản lý, bảo vệ và lô n4, khoảnh 2, tiểu khu C do Lèo Văn C quản lý, bảo vệ.”
Thiệt hại về tài sản: Ngày 11/12/2023, Hạt kiểm lâm huyện M ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 17/YC-HKL đối với số lâm sản bị thiệt hại. Ngày 13/12/2023 Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện M ban hành kết luận định giá số 1788/KL-HĐ kết luận: “Tổng giá trị lâm sản bị thiệt hại của diện tích 4.468m² rừng tự nhiên phòng hộ, trạng thái rừng TXK là 308.524.336 đồng”.
Bản cáo trạng số: 27/CT-VKSMS ngày 27 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn truy tố bị cáo Lèo Văn C, Lèo Thị N2 và Lèo Thị N1 về tội “Hủy hoại rừng” theo điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự.
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2024/HSST ngày 23/4/2024, Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đã xét xử và Quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lèo Văn C phạm tội Hủy hoại rừng; Xử phạt Lèo Văn C 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bị tạm giam (ngày 02/02/2024).
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lèo Thị N2 và bị cáo Lèo Thị N1 phạm tội Hủy hoại rừng.
- Xử phạt Lèo Thị N2 20 (Hai mươi) tháng cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt Lèo Thị N1 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ.
Miễn áp dụng mức khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Ngoài ra, bản án của Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 25/4/2024 bị cáo Lèo Văn C có đơn kháng cáo với nội dung: Bản thân bị cáo có nhân thân tốt luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, hoàn cảnh gia đình khó khăn tuổi cao sức yếu, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được án treo cải tạo tại địa phương.
Các bị cáo Lèo Thị N1, Lèo Thị N2, nguyên đơn dân sự và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không kháng cáo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm
- Bị cáo Lèo Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo Lèo Văn C kháng cáo đúng chủ thể, kháng cáo trong thời hạn luật định nên chấp nhận. Đối với nội dung kháng cáo: Nhận thấy, Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HSST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn đã đánh giá đúng tính chất, hành vi phạm tội và căn cứ đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và Quyết định về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo nhận tội và bổ sung thêm biên lai khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thể hiện việc ăn năn hối cải, tích cực khắc phục hậu quả đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa Bản án sơ thẩm số: 74/2024/HSST ngày 23/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho bị cáo.
Ý kiến của bị cáo: Nhất trí về tội danh, điều luật áp dụng và quan điểm giải quyết vụ án của kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo tuổi cao, sức yếu, vì không có đất sản xuất nên đã thực hiện hành vi phá rừng trồng cà phê, bị cáo đã trồng lại cây xoan đào trên diện tích rừng đã phá, bị cáo xin được hưởng án treo để có điều kiện nộp tiền khắc phục hậu quả.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo Lèo Thị N1, Lèo Thị N2; nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo.
Ngày 25/4/2024 bị cáo Lèo Văn C có đơn kháng cáo xin hưởng án treo cải tạo tại địa phương, đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo:
Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2023 đến tháng 6/2023, Lèo Văn C, Lèo Thị N1 và Lèo Thị N2 đã dùng dao, bật lửa thực hiện hành vi chặt phá, đốt rừng phòng hộ tại khu L thuộc bản P, xã M, huyện M, tỉnh Sơn La do Tòng Văn T và Lèo Văn C quản lý, bảo vệ gây thiệt hại về rừng với diện tích là 4.468 m². Cụ thể: theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00037QSDĐ/77/H-QĐ-UB/2004 do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày 02/3/2004 mang tên hộ Lèo Văn C là 3.962,0m² và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông Tòng Văn T do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày 02/3/2004 là 506,0m².
Theo bản đồ rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đã được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018 thì khu vực vi phạm nằm trong lô 52 và lô 54 thuộc khoảnh 2, tiểu khu C, thuộc quy hoạch là rừng sản xuất. Tuy nhiên hiện tại, diện tích đất trên chưa có quyết định chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định, chưa đính chính về loại đất trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích rừng bị thiệt hại là 4.468 m² thuộc loại rừng phòng hộ. Trạng thái rừng theo dữ liệu bản đồ theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp năm 2022 huyện M: Rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh nghèo (Ký hiệu: TXP). Theo quy định tại Điều 7 Luật Lâm nghiệp thì Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân (rừng tự nhiên). Tại thời điểm phát hiện vi phạm, rừng đã bị chặt phá, đốt toàn bộ diện tích và trồng cây cà phê trên đất, rừng không còn khả năng tái sinh. Giá trị lâm sản bị thiệt hại là 308.524.336 VNĐ.
Quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HSST, ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn đã căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo và quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lèo Văn C, Lèo Thị N2, Lèo Thị N1 phạm tội Hủy hoại rừng.
Xử phạt Lèo Văn C 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bị tạm giam (ngày 02/02/2024).
Xử phạt Lèo Thị N2 20 (Hai mươi) tháng cải tạo không giam giữ.
Xử phạt Lèo Thị N1 24 (Hai mươi bốn) tháng cải tạo không giam giữ.
Miễn áp dụng mức khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với các bị cáo.
Là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật, không oan sai.
[3] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Lèo Văn C:
Bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HSST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lèo Văn C 15 (Mười lăm) tháng tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Bản án đã nhận định, đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Về vai trò của bị cáo là người khởi xướng rủ các bị cáo Lèo Thị N1, Lèo Thị N2 cùng phá rừng phòng hộ để trồng cây cà phê. Xét thấy, quan hệ giữa các đồng phạm là bố con, tính chất đồng phạm trong vụ án giản đơn; mục đích phạm tội để có đất trồng trọt, trang trải cuộc sống gia đình. Tại phiên tòa phúc thẩm gia đình bị cáo xuất trình biên lai thu số 0000120 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Sơn về việc nộp 5.000.000 VNĐ thay cho bị cáo khắc phục, bồi thường một phần thiệt hại cho ngân sách Nhà nước là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới đối với bị cáo Lèo Văn C. Như vậy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân bị cáo là người cao tuổi, chưa có tiền án, tiền sự; ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, có nơi cư trú rõ ràng.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, bị cáo Lèo Văn C có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, việc chuyển biện pháp chấp hành hình phạt tù cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và việc cho bị cáo hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước. Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ
nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[4] Từ những nhận định, đánh giá nêu trên, xét thấy, cần chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị Lèo Văn C sửa bản án hình sự sơ thẩm số 74/2024/HSST ngày 23/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo.
[5] Về án phí: Bị cáo Lèo Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Lèo Văn C; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 74/2024/HSST ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La như sau:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:
- - Tuyên bố bị cáo Lèo Văn C phạm tội Hủy hoại rừng.
- - Xử phạt bị cáo Lèo Văn C 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 24/6/2024).
Căn cứ Khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Lèo Văn C tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Lèo Văn C cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 86, Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lèo Văn C cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Lèo Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo của bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 24/6/2024).
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Quản Hữu Chiến |
Bản án số 19/2024/HS-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về hủy hoại rừng
- Số bản án: 19/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội hủy hoại rừng
