TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HNGĐ - ST Ngày: 31/5/2024 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Mây
Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Viết Vĩnh và ông Nguyễn Văn Hợi
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình: ông Nguyễn Quang Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Bình tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 64/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐST - HNGĐ, ngày 03/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lê Hoàng T, sinh năm 1963 - có mặt
Địa chỉ: Số nhà B H, phường T, quận T, thành phố Hà Nội.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1974 - vắng mặt
Địa chỉ: Xóm C, xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn, lời khai tại Tòa án nguyên đơn là anh Lê Hoàng T trình bày: anh với chị Nguyễn Thị M tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Hà nội vào ngày 03/6/2012. Việc chúng tôi kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, lừa dối gì, sau kết hôn vợ chồng chung sống với nhau được khoảng 12 ngày thì chị M bỏ nhà anh về nhà bố mẹ đẻ ở xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên sinh sống và làm việc. Trước khi đăng ký kết hôn, do quá trình tìm hiểu nhau ngắn nên không có nhiều tình cảm để gắn bó cuộc sống vợ chồng và ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay anh T nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn với chị M để anh ổn định cuộc sống.
Về con chung: Không có
Về tài sản chung, nợ chung: do thời gian chúng tôi sống chung với nhau quá ngắn nên hai bên không có tài sản chung, nợ chung và cũng không cho ai vay tài sản gì.
1
Về án phí: Anh T tự nguyện nộp án phí ly hôn sơ thẩm.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ chị Nguyễn Thị M đến Toà án nhưng chị M đều vắng mặt không lý do. Tòa án gặp bà Nguyễn Thị T1 là mẹ đẻ của chị M, bà T1 cho biết: Ngày 10/4/2024 gia đình bà có nhận được thông báo thụ lý vụ án số 64 ngày 05/4/2024 của Tòa án huyện Phú Bình về việc anh T xin ly hôn con gái bà là M. Gia đình bà đã gửi tài liệu, thông tin cho chị M biết, do chị M đi làm ăn xa, việc đi lại về gia đình nhiều là khó khăn vì còn phải làm việc, khó xin nghỉ, việc anh T xin ly hôn, chị M không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Chị M và anh T xây dựng gia đình năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Hà nội. Sau khi kết hôn thì anh T, chị M sống ở Hà nội một thời gian ngắn thì chị M lại về nhà bà sinh sống và từ đó không liên lạc gì với nhau.
Về con chung: Anh T, chị M không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: không có gì.
Anh T xin ly hôn chị M gia đình tôi không có ý kiến gì.
Do chị M nhiều lần vắng mặt tại Tòa án không có lý do nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai.
Tại phiên tòa, anh T giữ nguyên quan điểm xin ly hôn chị M. Con chung: không có; tài sản chung, nợ chung và khoản cho vay không có.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và hội đồng xét xử: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 BLTTDS; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không chấp hành không đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- + Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Lê Hoàng T, cho anh T được ly hôn chị Nguyễn Thị M.
Về con chung: Không có.
Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: không xem xét, giải quyết.
Về án phí. Anh Lê Hoàng T tự nguyện nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
2
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra, công bố công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến trình bày của các đương sự, của vị đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- - Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án ly hôn mà bị đơn cư trú tại xã L, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
- - Về sự có mặt của đương sự: Đối với bị đơn, chị Nguyễn Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với chị M.
[2]. Về nội dung: Anh Lê Hoàng T và chị Nguyễn Thị M kết hôn năm 2012 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện, do đó xác định quan hệ hôn nhân giữa các đương sự là hợp pháp. Quá trình tìm hiểu và chung sống vợ chồng diễn ra trong thời gian rất ngắn là chị M đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6/2012 đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy giữa anh T và chị M do quan điểm sống không phù hợp, từ khi kết hôn cơ bản không sống cùng nhau và không có liên hệ gì với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Lê Hoàng T, cho anh T được ly hôn với chị Nguyễn Thị M là phù hợp thực tế và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Không có nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Anh T xác định không có. Chị M vắng mặt tại phiên toà nên HĐXX không xem xét giải quyết về phần này.
Về án phí: Anh Lê Hoàng T tự nguyện nộp án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 143, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Lê Hoàng T, cho anh T được ly hôn chị Nguyễn Thị M.
- Về con chung: Không có.
3
- Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí. Anh Lê Hoàng T tự nguyện nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước, chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp sang biên lai số 0003773, ngày 05/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với người vắng mặt./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN HỒNG MÂY |
4
Bản án số 19/2024/HNGĐ - ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn
- Số bản án: 19/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Lê Hoàng Trung, cho anh Trung được ly hôn chị Nguyễn Thị Mai
