|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24 - 4 - 2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hiền và Ông Trần Ngọc Chiến
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Lê - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Huyền – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 04/2024/ TLST – HNGĐ ngày 05/01/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 19/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/4/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Tô Thị M, sinh năm: 1986; nơi thường trú: tổ A, khu H, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: anh Trần Thanh T, sinh năm: 1982; đăng ký thường trú tại: tổ A, khu G, phường M, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: thôn Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 21/12/2023, lời tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Tô Thị M đều trình bày: chị và anh Trần Thanh T kết hôn vào năm 2007 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố C. Trước khi kết hôn anh chị có thời gian hiểu nhau khoảng 03 năm, sau khi kết hôn vợ chồng chị về sống tại tổ A, khu G, phường M, thành phố C. Cuộc sống chung của vợ chồng chị sau kết hôn cũng có hạnh phúc cho đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T thay đổi tính cách, không còn quan tâm chăm sóc gia đình nữa, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, thậm chí còn đánh nhau, sau đó chị phát hiện anh T có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác và không dành tình cảm cho chị nữa. Chị thấy mình không có lỗi trong việc để xảy ra mâu thuẫn vợ chồng, anh T không phối hợp trong việc tìm giải pháp khắc phục mâu thuẫn nên tình cảm vợ chồng không hàn gắn được, anh chị quyết định sống ly thân từ năm 2013, anh T chuyển về quê sinh sống tại thôn Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Bình còn chị và các con thời gian đầu vẫn ở nhà cũ cho đến năm 2019 thì chuyển đến sống tại tổ A, khu H, phường C, thành phố C. Thời gian đầu chị cũng có liên lạc với anh T để tìm cách hàn gắn nhưng không có kết quả, khi đó chị cũng muốn ly hôn anh T nhưng vì thương con còn nhỏ nên cố gắng chịu đựng, cho đến nay anh T cũng không thay đổi các con cũng đã lớn, chị cũng cần có cuộc sống riêng và cả hai đều không còn tình cảm dành cho nhau, không còn bàn bạc và trao đổi với nhau bất cứ vấn đề gì nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T để ổn định cuộc sống.
+ Về con chung: chị và anh Trần Thanh T có 02 con chung là Trần Cẩm L, sinh ngày 22/7/2007 và Trần Thanh H, sinh ngày 26/11/2009. Quan điểm của chị khi vợ chồng ly hôn, do cả hai con chung có quan điểm muốn ở cùng với chị, từ khi sống ly thân một mình chị phải đảm nhiệm việc chăm sóc, nuôi dạy các con nên chị đồng ý nuôi dưỡng cả hai con chung, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con chung; hiện chị lao động tự do thu nhập bình quân cũng được từ 06 triệu đồng đến 07 triệu đồng/tháng cùng với sự trợ giúp của gia đình nhà ngoại nên cũng đảm bảo nuôi dưỡng cả hai con chung phát triển tốt.
+ Về tài sản chung: vợ chồng chị tự thỏa thuận chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết; công nợ chung không có.
* Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn – anh Trần Thanh T nhiều lần nhưng anh T cố tình vắng mặt do vậy Tòa án không lấy được lời khai, anh T không có quan điểm gì về quan hệ hôn nhân, về con chung cũng như tài sản và công nợ chung.
* Tòa án tiến hành lấy lời khai của ông Trần Đại T1, bố đẻ của anh Trần Thanh T, ông T1 có lời khai tại hồ sơ vụ án thể hiện: anh T và chị M kết hôn tự nguyện vào năm 2007 có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thành phố C. Sau khi kết hôn anh T, chị M về sống cùng với ông tại tổ A, khu G, phường M, thành phố C, cũng có hạnh phúc được một thời gian rồi phát sinh mâu thuẫn từ cách đây 10 năm. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách của hai anh chị không hợp nhau, gia đình hai bên cũng động viên, hòa giải mâu thuẫn nhưng không có kết quả, không thể chung sống cùng nhau được nữa. Cách đây khoảng 4 năm anh chị sống ly thân nhau, chị M về gia đình nhà ngoại còn anh T về quê Thái Bình để sinh sống, trong suốt quá trình sống ly thân anh T và chị M không quan tâm đến nhau. Ông cũng đã nhận được giấy báo của Tòa án về việc giải quyết ly hôn của anh T và M, ông đã liên lạc với anh T và thông tin đầy đủ cho anh T. Anh T cũng đồng ý ly hôn nhưng bận công việc nên không đến Tòa án Cẩm Phả để giải quyết việc ly hôn được. Ông sẽ nhận thay mọi giấy tờ của anh T và thông tin lại cho con trai ông. Anh T và chị M có 02 con chung là Trần Cẩm L, sinh ngày 22/7/2007 và Trần Thanh H, sinh ngày 26/11/2009, từ khi ly thân thì cả hai cháu đều ở với chị M, các cháu đều khỏe mạnh và phát triển bình thường. Khi Tòa án giải quyết ly hôn anh T cũng đồng ý để chị M trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung nhưng vì làm lao động tự do nên anh T không cấp dưỡng cho con chung, Tòa án giao con cho chị M nuôi cũng hợp lý. Từ sau khi kết hôn anh T chị M về ở cùng với vợ chồng ông, cả hai không có công ăn việc làm nên không có tài sản chung, không có vay nợ chung.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả có ý kiến cho rằng trong quá trình giải quyết vụ án cho đến khi kết thúc phiên toà Thẩm phán, Thư ký được phân công thụ lý giải quyết vụ án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng quan hệ tranh chấp và áp dụng các quy định của pháp luật giải quyết vụ án chính xác; Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bị đơn là anh Trần Thanh T thực hiện chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện của chị Tô Thị M, chị M có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, anh T không phải cấp dưỡng cho các con; tài sản và công nợ chung chị M không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: chị Tô Thị M yêu cầu xin ly hôn với anh Trần Thanh T hiện cư trú tại địa bàn thành phố C nên Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả thụ lý giải quyết với quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” là đúng quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn – anh Trần Thanh T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, sau khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đã tống đạt hợp lệ cho anh T nhưng anh T cố tình không tham gia tố tụng theo quy định và cũng không có người đại diện tham gia tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: cuộc hôn nhân giữa chị Tô Thị M và anh Trần Thanh T là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, thành phố C vào năm 2007. Sau kết hôn, thời gian đầu anh chị về sống cùng gia đình nhà nội ở tổ A, khu G, phường M, thành phố C. Cuộc sống chung của anh chị theo chị M trình bày thì có hạnh phúc cho đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do anh T thay đổi tính cách, không còn quan tâm đến gia đình như trước, sau đó chị M phát hiện anh T có quan hệ ngoại tình với người phụ nữ khác nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xúc phạm lẫn nhau thậm chí còn đánh nhau nên cũng trong năm này anh chị quyết định sống ly thân nhau. Anh T2 về quê ở T còn chị M cùng với các con về gia đình nhà ngoại ở tại phường C, thời gian đầu chị M cũng có liên lạc với anh T2 để tìm biện pháp hàn gắn nhưng không đạt kết quả nên sau đó anh chị không còn bàn bạc, trao đổi với nhau bất cứ vấn đề gì nữa. Đến nay cả hai anh chị đều không còn tình cảm dành cho nhau nhưng anh T2 không hợp tác với chị M để giải quyết việc ly hôn. Bản thân anh T2 khi được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng cũng không đến để tham gia tố tụng, chứng tỏ anh T2 cũng không thiện chí hoặc trách nhiệm trong việc giải quyết mâu thuẫn, không có biện pháp tích cực để vợ chồng về đoàn tụ nên chị M xin ly hôn là hoàn toàn có căn cứ. Mâu thuẫn của chị M và anh T2 cũng phù hợp với ý kiến của con chung của anh chị và phù hợp với kết quả thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của anh chị tại nơi cư trú. Do vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị M và anh T2 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M đối với anh T2.
+ Về con chung: chị Tô Thị M và anh Trần Thanh T có 02 con chung là Trần Cẩm L, sinh ngày 22/7/2007 và Trần Thanh H, sinh ngày 26/11/2009, các con chung của anh chị cũng đều có nguyện vọng được chị M nuôi dưỡng khi bố mẹ ly hôn, chị M cũng đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho các con chung. Đại diện khu phố nơi anh T cư trú cho biết “đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết........... chị M vẫn trực tiếp nuôi cả hai con chung thì nên để chị M tiếp tục nuôi, tránh xáo trộn cuộc sống của các con trẻ”. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa anh T không chấp hành pháp luật, không đến Tòa án để tham gia tố tụng nên không có quan điểm về việc nuôi dưỡng con chung khi vợ chồng ly hôn, quan điểm của chị M cũng phù hợp với nguyện vọng của các con chung của anh chị. Xét thấy yêu cầu nuôi dưỡng con chung của chị M là chính đáng, chị M cũng có thu nhập nên đảm bảo được việc nuôi dưỡng các con chung. Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội đồng xét xử thấy cần thiết giao cả hai con chung cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) là phù hợp và cũng như đảm bảo được các điều kiện cho sự phát triển cho con chung của anh chị. Do chị M không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét; anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con chung mà không ai được cản trở.
* Về tài sản chung: chị Tô Thị M và anh Trần Thanh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; công nợ chung: không có.
[3] Về án phí: chị Tô Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227; các Điều 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Tô Thị M và anh Trần Thanh T.
- Về con chung: giao 02 con chung là Trần Cẩm L, sinh ngày 22/7/2007 và Trần Thanh H, sinh ngày 26/11/2009 cho chị Tô Thị M có quyền, nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Trần Thanh T không phải cấp dưỡng cho con chung và có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: chị Tô Thị M phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp ngày 03/01/2024 theo biên lai số: 0002146 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho biết: nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Quýnh |
Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Tô Thị M xin ly hôn anh Trần Thanh T
