|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24-4-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Tuấn.
-
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Lan Phương;
2. Bà Trần Ngọc Tường Vi.
-
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 500/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 03 năm 2023 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Phương M, sinh năm: 1990; HKTT: Số 25 Nguyễn Hữu Dật, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt
-
- Bị đơn: Ông Nguyễn Huy P, sinh năm 1984; HKTT: đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, khu phố 5, thị trấn Dầu Tiếng, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 02/11/2023, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà M trình bày: Bà M và ông P chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Dầu Tiếng, huyện Dầu Tiếng. Trong quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc nhưng thời gian gần đây thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp tính tình, thường xuyên cãi nhau. Hiện nay bà M và ông P đã sống ly thân với nhau.
Trong quá trình chung sống bà M và ông P có 01 con chung là Nguyễn Trần Bảo Trâm, sinh ngày 19/01/2013, khi ly hôn bà M yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông P trình bày: Vắng mặt không có lý do
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa có ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong suốt quá trình tố tụng là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án: Bà M và ông P đã sống ly thân với nhau, xét thấy vợ chồng không còn tình cảm, việc sống chung không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đang cư trú tại xã thị trấn Dầu Tiếng, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Bị đơn ông P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia giải quyết vụ án nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung tranh chấp:
-
- Về quan hệ hôn nhân: Bà M và ông P quen biết nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Xét thấy, hiện bà M và ông P đã sống ly thân với nhau, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Ông P đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để làm việc nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, bị đơn không có thiện chí để hòa giải đoàn tụ, bị đơn đã từ bỏ quyền chứng minh của người kiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Trần Thị Phương M với bị đơn ông Nguyễn Huy P theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
-
- Về con chung: Trong quá trình chung sống bà M và ông P có với nhau 01 con chung là Nguyễn Trần Bảo Trâm, sinh ngày 19/01/2013. Xét thấy, hiện nay cháu Trâm đã trên 07 tuổi và có nguyên vọng được ở với bà M nên việc giao cháu Trâm cho bà M nuôi dưỡng là phù hợp, không ảnh hưởng đến tâm sinh lý của trẻ. Ghi nhận sự tự nguyện của bà M không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
-
- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Quan điểm về nội dung vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là có căn cứ.
[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
-
- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 235, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
-
- Căn cứ các Điều 56, 82, 83, 107, 115, 116, 117, 118, 119 Luật hôn nhân và gia đình;
-
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Phương M đối với bị đơn ông Nguyễn Huy P về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
-
- Về hôn nhân: Bà Trần Thị Phương M được ly hôn với ông Nguyễn Huy P.
-
- Về con chung: Giao cho bà Trần Thị Phương M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Trần Bảo Trâm, sinh ngày 19/01/2013. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Phương M không yêu cầu ông Nguyễn Huy P cấp dưỡng nuôi con.
-
Bà Trần Thị Phương M và ông Nguyễn Huy P đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
-
- Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-
-
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Phương M phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.00 đồng (ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0009616 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
-
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định pháp luật./.
|
- TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - CCTHADS huyện Dầu Tiếng; - UBND xã Long Tân; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Quang Tuấn |
|
Thành viên hội đồng xét xử |
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa |
|
Trần Ngọc Tường Vi Lê Thị Lan Phương |
Trần Quang Tuấn |
Bản án số 19/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 19/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai phong
