TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. |
Bản án số: 19/2024/HSST Ngày 23/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Trần Thị Lệ Thanh
- Các hội thẩm nhân dân :
- Bà Phạm Thị Ngọc Lan;
- Bà Phạm Bích Thủy.
- Thư ký toà án ghi biên bản phiên toà : Ông Đặng Trần Hoàng – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Phùng Bích Ngọc- Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/HSST ngày 28/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HS ngày 15/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-HS ngày 26/4/2024 đối với bị cáo:
Hà Huy B; Tên gọi khác: Hà B Tiến; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1965 tại huyện H, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT: KDC T, phường V, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: Không xác định; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Hà Bình Q(Đã chết); Con bà: Dương Thị L, sinh năm 1942. Hiện ở phường 8, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ. Hôm nay có mặt tại phiên toà .
Người bị hại: ông Lê Đình L, sinh năm 1956 đã chết năm 2020
Địa chỉ : Số 5A, ngõ ĐK2, phường T, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Người đại diện gia đình bị hại: anh Lê Tuấn A sinh năm 1986
Địa chỉ: Số 5A, ngõ ĐK2, phường T, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Năm 1990, ông Lê Văn Lâm sinh năm 1934, trú tại số 44, xa lộ Trần Hưng Đạo, thị xã Phan Thiết, tỉnh Thuận Hải nay là số 44, đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, phường Phú Trinh, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận là người thường xuyên chở hàng nước mắm, cá mắm từ miền Nam ra thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ bán nên có quen biết và thỏa thuận mua bán nước mắm, cá mắm với ông Trần Sỹ Hùng sinh năm 1956, trú tại phường Phong Châu, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Ngày 30/10/1990, ông Lâm chở 1.778 kg cá mắm gồm: 296 kg cá Trích và 1.482 kg cá Mối để bán cho ông Hùng nhưng do số lượng cá không đủ như thỏa thuận trước đó nên ông Hùng không mua mà nói với ông Lâm sẽ giới thiệu người mua số cá trên. Qua ông Hùng giới thiệu, ông Lâm đã gặp và đồng ý bán số cá trên cho ông Lê Đình L sinh năm 1956 trú tại xã Thanh Lạc, huyện Hoàng Long, tỉnh Hà Nam Ninh nay là xã Thanh Lạc, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Thời điểm này ông L đang thuê cửa hàng hợp tác xã Văn Lung, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ để buôn bán. Ngày 31/10/1990, ông Lâm chuyển cá đến cửa hàng ông L, cùng đi có ông Hùng và hai người nữa để bốc dỡ hàng là Nguyễn Quang Huy sinh năm 1964 ở phường Phong Châu, thị xã Phú Thọ và Hà Huy B sinh năm 1965 ở phố Tân Lập, phường Hùng Vương, thị xã Phú Thọ. Ông Lâm bán cho ông L 296 kg cá Trích với giá 2.050 đồng/1kg, thành tiền là 606.800 đồng; 1.482 kg cá Mối với giá 3.050 đồng/1kg, thành tiền là 4.520.100 đồng. Tổng số tiền bán cá là 5.126.900 đồng. Khi viết hóa đơn, ông L viết đại diện bên bán là Hà Huy B rồi cùng B ký vào hóa đơn. Do ông L không rút được tiền ở ngân hàng nên hẹn hôm sau sẽ thanh toán, ông Lâm đồng ý rồi cùng mọi người ra về.
Khoảng 07 giờ ngày 01/11/1990, ông Lâm đi cùng ông Hùng đến ông L để lấy tiền bán cá nhưng ông L vẫn chưa có tiền trả. Ông Lâm nói chậm nhất ngày hôm sau 02/11/1990 mà ông L không trả được tiền thì sẽ lấy lại cá. Biết việc ông L chưa trả tiền cá cho ông Lâm và hóa đơn bán hàng đứng tên mình nên Hà Huy B nảy sinh ý định chiến đoạt số cá trên để bán lấy tiền chi tiêu. Khoảng 11 giờ cùng ngày 01/11/1990, B thuê xe ô tô tải của một người không quen biết đến cửa hàng của ông L. Tại đây, B nói do ông L không thanh toán tiền nên ông Lâm bảo đến lấy lại cá mang bán cho người khác. Ông L thấy chỉ có mình B đến và không đúng như thời hạn ông Lâm nói nên không trả hàng ngay mà cho người đi tìm ông Lâm để hỏi lại nhưng không gặp được ông Lâm. Do vẫn chưa có tiền thanh toán và nghĩ ông Lâm tránh mặt nên đã tin lời B và đồng ý trả lại toàn bộ số cá theo hóa đơn cho B. Sau đó, ông L mua lại của B 296 kg cá Trích với số tiền 606.000 đồng, trả tiền ngay nên chỉ viết hóa đơn trả hàng cho B 1.482 kg cá Mối. Sau khi viết hóa đơn, ông L tiếp tục mua của B 198 kg cá Mối với số tiền 603.900 đồng. B bớt cho ông L 3.900 đồng. Số tiền 600.000 đồng còn lại ông L hẹn ba ngày sau sẽ thanh toán. B đồng ý. Số cá Mối còn lại là 1.284 kg, B mang đi bán cho nhiều người khác nhau rồi bỏ trốn khỏi địa phương.
Ngày 26/11/1990, ông Lê Văn Lâm đến Công an thị xã Phú Thọ trình báo sự việc và giao nộp 02 hóa đơn kiêm phiếu xuất kho đề ngày 31/10/1990 và ngày 01/11/1990 của cửa hàng mua bán xã Văn Lung, thị xã Phú Thọ đều có chữ ký của Hà Huy B. Công an thị xã Phú Thọ đã triệu tập những người có liên quan đến làm việc nhưng không triệu tập được B. Căn cứ tài liệu thu thập được, ngày 05/12/1990, Công an thị xã Phú Thọ đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, Lnh bắt tạm giam bị can đối với Hà Huy B về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân quy định tại Điều 157 Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985. Quá trình điều tra xác định Hà Huy B đã trốn khỏi địa phương, ngày 01/02/1991 Công an thị xã Phú Thọ đã ra quyết định truy nã đối với B.
Ngày 05/4/1991, do thời hạn điều tra đã hết nhưng vẫn chưa bắt được bị can, Cơ quan Công an thị xã Phú Thọ đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra bị can đối với B. Quá trình xác minh truy nã, đến ngày 18/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã Phú Thọ đã bắt giữ được B khi đang lẩn trốn tại ấp Hòa, xã Hòa Hưng, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Ngày 26/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã Phú Thọ đã ra quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự, phục hồi điều tra bị can đối với Hà Huy B.
Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an thị xã Phú Thọ đã yêu cầu định giá đối với số cá mắm mà B chiếm đoạt. Tại bản kết luận định giá tài sản số 07/KL-ĐGTS ngày 21/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã Phú Thọ kết luận: Giá trị của 1.482 kg cá Mối (loại cá biển khô) tại thời điểm định giá là 153.140.000 đồng; giá trị của 296 kg cá Trích (loại cá biển khô) tại thời điểm định giá là 10.855.000 đồng.
Ngày 06/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với chữ viết và chữ ký của Hà Huy B trong các hóa đơn do ông Lê Văn Lâm giao nộp. Tại bản kết luận giám định số 345/KL-KTHS ngày 07/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:
“Chữ ký dạng chữ viết “B” dưới mục: “Người nhận” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A1); Chữ ký dạng chữ viết “B” và các chữ “Hà Huy B” dưới mục: “Người nhận” trên mẫu cần giám định (ký hiệu A2) so với chữ ký, chữ viết của Hà Huy B trên mẫu so sánh (ký hiệu M) là do cùng một người ký và viết ra”.
Đối với ông Lê Đình L: Năm 1990 ông L trú tại xã Thanh Lạc, huyện Hoàng Long, tỉnh Hà Nam Ninh nay là xã Thanh Lạc, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình) thuê cửa hàng hợp tác xã Văn Lung, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ để kinh doanh nước mắm, cá mắm. Sau khi sự việc xảy ra, buôn bán không thuận lợi nên không thuê nữa và chuyển về sinh sống tại số 5A, ngõ Đoàn Kết 2, phường Thổ Quan, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Ông L đã chết năm 2020. Con trai ông L là anh Lê Tuấn Anh sinh năm 1986, trú tại số 5A, ngõ Đoàn Kết 2, phường Thổ Quan, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội được gia đình ủy quyền làm việc với cơ quan điều tra. Anh Tuấn Anh không yêu cầu bị can phải bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì khác liên quan đến vụ án trên.
Đối với ông Lê Văn Lâm: theo hồ sơ vụ án năm 1990, ông Lâm cung cấp nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 44, xã lộ Trần Hưng Đạo, thị xã Phan Thiết, tỉnh Thuận Hải nay là số 44 đường Trần Hưng Đạo, khu phố 2, phường Phú Trinh, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Cơ quan CSĐT- Công an thị xã Phú Thọ đã ủy thác điều tra cho Cơ quan CSĐT- Công an thành phố Phan Thiết điều tra xác minh về nhân thân và làm việc với ông Lê Văn Lâm. Tuy nhiên, kết quả ủy thác không xác định được người có tên là Lê Văn Lâm theo địa chỉ nêu trên.
Đối với ông Trần Sỹ Hùng sinh năm 1956, trú tại phố Phú An, phường Phong Châu, thị xã Phú Thọ nay là KDC Phú An, phường Phong Châu, thị xã Phú Thọ. Kết quả xác minh xác định ông Hùng đã chết năm 2001.
Đối với ông Nguyễn Quốc Huy: ông Huy khai trước đây lấy tên là Nguyễn Quang Huy, nay cải chính lại là Nguyễn Quốc Huy. Thời điểm năm 1990, ông Huy cùng làm bốc vác với Hà Huy B. Ngày 31/10/1990, ông Lê Văn Lâm thuê ông Huy và B bốc dỡ hàng cá mắm ở cửa hàng hợp tác xã văn Lung. Việc thỏa thuận mua bán giữa ông Lâm, ông L như thế nào ông Huy không biết. Ngày 01/11/1990, B chiếm đoạt cá của ông L mang đi bán ông Huy cũng không biết, không liên quan.
Tại Cơ quan điều tra, Hà Huy B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, đồng thời khai nhận sau khi chiếm đoạt được cá đã mang đi bán cho nhiều người khác nhau, nhưng do thời gian lâu nên không nhớ bán cho ai, được bao nhiêu tiền. B chỉ nhớ số tiền bán cá thu được đã chi tiêu cá nhân hết sau đó bỏ trốn khỏi địa phương. Quá trình lẩn trốn không làm bất cứ giấy tờ tùy thân gì và không có hành vi nào vi phạm pháp luật bị xử lý.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSTX ngày 27/3/2024 của VKSND thị xã Phú Thọ đã truy tố Hà Huy B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên toà hôm nay Hà Huy B đã thành khẩn khai nhận hành vi: Khoảng 11 giờ ngày 01/11/1990, tại cửa hàng Hợp tác xã Văn Lung, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Hà Huy B đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của ông Lê Đình L gồm 1.482 kg cá Mối, 296 kg cá Trích đều là loại cá biển khô trị giá 5.126.900 đồng (Năm triệu một trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm đồng) mang đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, sau đó bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 18/12/2023, B bị bắt theo Quyết định truy nã của Cơ quan điều tra. Bị cáo không có lời tranh luận, bào chữa nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt Hà Huy B mức án từ 24 tháng đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về án phí: Hà Huy B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của bị cáo Hà Huy B phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và vật chứng thu được của vụ án. B là người bốc vác thuê cho ông Lê Văn Lâm khi ông Lâm bán cá khô cho ông Lê Đình L. Do ông L chưa rút được tiền về trả cho ông Lâm và ông L ghi tên người bán là Hà Huy B nên B đã nảy sinh ý định chiếm đoạt 1.482 kg cá Mối, 296 kg cá Trích (đều là loại cá biển khô) trị giá 5.126.900 đồng (Năm triệu một trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm đồng) của ông L. Sau khi lừa lấy được cá từ ông L, B mang đi bán cho nhiều người lấy tiền chi tiêu cá nhân, sau đó bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 18/12/2023, B bị bắt theo Quyết định truy nã của Cơ quan điều tra. Theo Hội đồng định giá thì giá trị của số tài sản mà Hà Huy B đã chiếm đoạt có giá trị tại thời điểm hiện tại là 163.995.000₫ ( Giá trị của 1.482 kg cá Mối - loại cá biển khô tại thời điểm định giá là 153.140.000 đồng; giá trị của 296 kg cá Trích - loại cá biển khô - tại thời điểm định giá là 10.855.000 đồng). Hành vi phạm tội của Hà Huy B xảy ra trước ngày 01/01/2018, Cơ quan Công an thị xã Phú Thọ khởi tố B về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” theo Điều 157 Bộ luật hình sự năm 1985 nay là tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017. Điều 157 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm”. So sánh hình phạt quy định ở hai Bộ luật thì hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định hình phạt tù còn hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định hình phạt cải tạo không giam giữ. Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, quy định Hiệu lực của Bộ luật hình sự về thời gian và Nghị quyết số 41/2017 của Quốc hội thì hành vi phạm tội của Hà Huy B được áp dụng truy tố theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó có đủ cơ sở kết luận Hà Huy B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[1] Hành vi, quyết định tố tụng: của cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Thọ, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo B không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét tính chất vụ án: Mặc dù tính chất vụ án là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo gây nguy hại cho xã hội, với lỗi cố ý đã trực tiếp xâm phạm trái pháp luật đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân, làm mất an ninh trật tự xã hội. Do đó vụ án cần phải được đưa ra xét xử nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3] Xét về nhân thân bị cáo thì thấy: Bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe nhưng không chăm chỉ lao động để có thu nhập chính đáng. Lợi dụng sơ hở và sự tin tưởng của người khác để chiếm đoạt số tài sản trị giá 5.126.900đ. Tại thời điểm năm 1990, đó là số tài sản có giá trị lớn. Sau khi phạm tội đã bỏ chốn khỏi địa phương, bị truy nã hơn 30 năm mới bị bắt giữ. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhất thời do hám lợi. Do đó bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i,s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tiền án, tiền sự nên không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình bỏ trốn, bị cáo không có hành vi vi phạm pháp luật nào bị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã nêu, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cho bị cáo một mức phạt tù có thời hạn mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung : Khoản 5 điều 174 BLHS qui định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”. Xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự và sử lý vật chứng của vụ án:
Đối với 1.482 kg cá Mối và 296 kg cá Trích đều là loại cá biển khô cơ quan điều tra không thu giữ được. Cơ quan điều tra thu giữ 02 hóa đơn kiêm phiếu xuất kho là căn cứ chứng minh việc B phạm tội cần lưu trong hồ sơ vụ án là phù hợp.
Bị hại trong vụ án này là ông Lê Đình L đã chết. Đại diện hợp pháp của bị hại là anh Lê Tuấn Anh không yêu cầu B phải bồi thường hoặc yêu cầu gì khác về vụ án. Đối với ông Lê Văn Lâm là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, hiện nay không xác định được địa chỉ, không có tài liệu nào về việc ông L đã thanh toán số tiền ông Lâm bán cá khô cho ông L nên tách ra không giải quyết trong vụ án này. Nếu sau này ông Lâm và gia đình bị hại có yêu cầu bồi thường sẽ được xem xét giải quyết trong một vụ án khác.
Về án phí : Bị cáo B phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên :
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 điều 174, điểm i, s khoản 1 điều 51; điều 38, khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017 của Quốc hội; khoản 2 điều 136, điều 331, khoản 1 điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, L phí Tòa án.
Tuyên bố: Hà Huy B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt: Hà Huy B 27 (hai mươi bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 18/12/2023. Miễn áp dụng hình phạt bổ xung.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí : Buộc Hà Huy B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo. Đại diện theo ủy quyền của gia đình người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp L để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Lệ Thanh |
Bản án số 19/2024/HSST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 19/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
