|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU TỈNH LC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2023/HS-ST
Ngày: 22-11-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU, TỈNH LC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Lệ Thuỷ
Ông Tòng Văn Đại
- Thư ký phiên toà: Ông Giàng A Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện TU,
tỉnh LC.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, tỉnh LC tham gia phiên
toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TU, tỉnh LC xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2023/TLST- HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng Thị C; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/12/1997 tại huyện TU, tỉnh LC;
Nơi cư trú: Bản H, xã TM, huyện TU, tỉnh LC; Nghề nghiệp: Trồng trọt;
Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng A S(đã chết, không xác định được năm sinh) và bà Giàng Thị S, sinh năm 1960; Bị cáo có chồng là Thào A C, sinh năm 1955 và có 04 con (con nhỏ nhất sinh ngày 24/7/2023); Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ hồi 11 giờ 35 phút ngày 08/8/2023, đến ngày 17/8/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Vàng Thị C: Ông Nguyễn Công Hưởng - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh LC. (Có mặt).
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 08/8/2023, Vàng Thị C đi bộ từ bản Nậm Vai, xã Phúc Than, huyện TU, tỉnh LC lên bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện TU, mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Tại bản Noong Thăng, Vàng Thị C gặp một người phụ nữ không rõ lai lịch. Qua nói chuyện, Vàng Thị C mua của người phụ nữ đó 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng. Mua được Heroine, Vàng Thị C cấu lấy một ít sử dụng bằng hình thức hít. Số Heroine còn lại, Vàng Thị C cất giấu trong túi vải đeo trên người. Đến 10 giờ cùng ngày, tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện TU, Vàng Thị C bị Công an huyện TU phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ trên tay trái của Vàng Thị C là 01 mảnh giấy bạc đã than hóa có chứa Heroine và 01 bật lửa ga màu tím; thu giữ 01 túi vải đa màu sắc đeo trên người Vàng Thị C, bên trong có 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu hồng.
Tại bản kết luận giám định tư pháp số 107 ngày 08/8/2023 của người giám định theo vụ việc Công an huyện TU và kết luận giám định số 942 ngày 10/8/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh LC kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Vàng Thị C có khối lượng 0,19 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin).
Vật chứng của vụ án gồm: 0,19 gam Heroine (Cơ quan điều tra đã gửi giám định hết (không hoàn lại)); 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu tím; 01 túi vải đa màu sắc; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Số vật chứng còn lại hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện TU, tỉnh LC.
Bản cáo trạng số 167/CT-VKS ngày 03/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TU tỉnh LC truy tố bị cáo Vàng Thị C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, tỉnh LC giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Thị C từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Khấu trừ thời hạn tạm giữ cho bị cáo. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Miễn áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
2
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu tím; 01 túi vải đa màu sắc; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt chính, hình phạt bổ sung và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo Vàng Thị C đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, hiện bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi và là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nguyên nhân, điều kiện phạm tội xuất phát từ hiểu biết pháp luật còn hạn chế, hành vi phạm tội đơn giản do bị cáo mua ma tuý về sử dụng cho nhu cầu của bản thân, khối lượng ma tuý tàng trữ thấp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt.
Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Vàng Thị C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát và nhất trí với luận cứ bào chữa, không bổ sung lời bào chữa.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TU, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TU, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Vàng Thị C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài
3
liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 09 giờ ngày 08/8/2023, tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện TU, tỉnh LC, Vàng Thị C đã mua trái phép 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng của một người phụ nữ không rõ lai lịch, mục đích để sử dụng. Đến 10 giờ cùng ngày, tại bản Noong Thăng, xã Phúc Than, huyện TU, Vàng Thị C bị Công an huyện TU phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ của Vàng Thị C là 01 gói Heroine và 01 mảnh giấy bạc có chứa Heroine có tổng khối lượng 0,19 gam.
Bị cáo Vàng Thị C là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi cố ý tàng trữ trái phép 0,19 gam Heroine, mục đích để sử dụng của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện TU truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do vậy cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Vàng Thị C sinh ra tại huyện TU, tỉnh LC, bị cáo không được đi học, không biết chữ, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo là phụ nữ nhưng đã không làm tròn trách nhiệm của người vợ, người mẹ trong gia đình, làm gương cho các con mà mắc vào tệ nạn xã hội, nghiện chất ma túy dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Vàng Thị C đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban dân tộc, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, bản thân bị cáo nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập không ổn định; Bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể. Do đó, Hội đồng xét
4
xử không áp dụng các hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tịch thu một phần hoặc tài bộ tài sản đối với bị cáo Vàng Thị C.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng còn lại của vụ án là 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc đã than hóa, 01 bật lửa ga màu tím, 01 túi vải đa màu sắc, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TU về mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
Chấp nhận ý kiến của người bào chữa về tội danh, điều khoản áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm đối bị cáo. Không chấp nhận đề của của người bào chữa cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt. Do bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Do vậy, cần có mức án tương xứng trong khung đề nghị của Viện kiểm sát mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 123 của Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
[10] Các vấn liên quan đến vụ án:
Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Vàng Thị C khai mua của một người không biết tên, tuổi, nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
5
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng Thị C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vàng Thị C 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Khấu trừ thời hạn tạm giữ cho bị cáo 09 (Chín) ngày. Thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại là 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Miễn áp dụng các hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vàng Thị C.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì Công an huyện TU bên trong đựng 01 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 mảnh giấy bạc đã than hóa; 01 bật lửa ga màu tím; 01 túi vải đa màu sắc.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28 tháng 7 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TU và Chi cục Thi hành án dân sự huyện TU, tỉnh LC).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn cho bị cáo Vàng Thị C 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân cấp trên./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA ĐÃ KÝ Quàng Thị Phương |
6
Bản án số 19/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU, TỈNH LC về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 19/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TU, TỈNH LC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vàng Thị C - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
