|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HSST
Ngày: 22/4/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN- TỈNH THANH HOÁ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Long.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thơm
- Ông Chu Ngọc Trọng
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Huy- Thư ký tòa án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 14/2024/TLST-HS ngày 07/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Duy S;
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1990, tại Thanh Hóa; HKTT và nơi ở hiện nay: Phố G, phường Q, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Duy S1; Con bà: Nguyễn Thị T; bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Văn Thị H, có 02 con lớn nhất sinh năm 2020 nhỏ nhất sinh năm 2023;Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17/4/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương xử phạt 22 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 39 tháng 24 ngày về tội "Cướp giật tài sản". Đã được xóa án tích; Ngày 18/12/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn xử phạt 42 tháng tù về tội "Cướp giật tài sản. Đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/12/2023 đến ngày 04/01/2024 tạm giam đến nay. Hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố S. “Có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại:
- Anh Vũ Đình K, sinh năm: 1971. “Vắng mặt”
Địa chỉ: KP Thọ Xuân, phường Quảng Tiến, TP Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
(Anh Khoa có đơn xin xét xử vắng mặt) - Anh Đàm Văn N, sinh năm: 1978. “Vắng mặt”
Địa chỉ: SN A đường B, TDP K, phường B, TP S, Thanh Hóa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Bá H1, sinh năm: 1966. “Vắng mặt”
Địa chỉ: K, phường B, TP S, tỉnh Thanh Hóa
Người làm chứng:
- Bà Lê Thị T1 – SN: 1969. “Vắng mặt”.
Địa chỉ: KP L, phường B, TP S, tỉnh Thanh Hóa - Anh Lê Văn H2 – SN: 1962. “Vắng mặt”
Địa chỉ: KP L, phường B, TP S, tỉnh Thanh Hóa - Chị Đỗ Thị D – SN: 1972. “Vắng mặt”
Địa chỉ: KP K, phường Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 24/12/2023, Nguyễn Duy S điều khiển xe môtô Wave gắn biển kiểm soát: 36N1.080.65 phía sau có xe kéo trên đường đi làm thợ sơn ở phường T, thành phố S về, khi đi đến nhà văn hóa Đ cũ thuộc TDP. Lập Công, phường B, thành phố S, S dừng xe trèo qua tường để đi vệ sinh rồi nhìn qua khe cửa nhà văn hóa thấy 11 thùng sơn chưa qua sử dụng (số sơn trên là của anh Đàm Văn N, sinh năm 1978 ở TDP. K, phường B, thành phố S) không có người trông coi. Nguyễn Duy S nhặt viên đá ở sân đập khóa cửa rồi sử dụng thang tre có sẵn ở sân dựa vào tường rào lần lượt trèo vác 11 thùng sơn ra vỉa hè đường B, phường B, thành phố S. Khi Nguyễn Duy S đang chuẩn bị xách sơn lên xe thì anh Nguyễn Bá H1, sinh năm 1966 ở phường B đi qua hỏi mua 02 thùng thì S đồng ý bán, anh H1 xách 02 thùng sơn đi về. Lúc này do sợ bị phát hiện Nguyễn Duy S xách 06 thùng sơn để lên xe kéo và điều khiển xe về nhà ở phường Q, Thành phố S, còn 03 thùng sơn vẫn để ngoài vỉa hè trước nhà văn hóa. Sau đó, anh Nguyễn Bá H1 đi bộ ra vỉa hè không thấy ai thì tiếp tục xách 01 thùng sơn đi về. Một lúc sau bà Lê Thị T1, sinh năm 1969 ở phường B đi đổ rác thấy 02 thùng sơn để sát tường nhà văn hóa nên gọi ông Lê Văn H2, sinh năm 1962 gần nhà mỗi người xách 01 thùng sơn về nhà. Sau khi quay lại lấy số sơn còn lại, thấy không còn nên Nguyễn Duy S đi đến nhà anh H1 lấy tiền bán 02 thùng sơn trước đó được 200.000 đồng rồi đi về.
Ngày 25/12/2023 anh Đàm Văn N phát hiện bị mất tài sản đã đến Công an phường B trình báo, khi biết được sự việc Nguyễn Bá H1, Lê Thị T1, Lê Văn H2 đã mang số thùng sơn trước đó trả lại cho anh N.
Nhận được nguồn tin về tội phạm, Công an phường B đã tiến hành điều tra, xác minh (qua C xác định người trộm cắp là Nguyễn Duy S nên đã triệu tập để làm việc). Tại Công an phường B biết hành vi của mình đã bị phát giác Nguyễn Duy S đã khai nhận toàn bộ hành vi và giao nộp 06 thùng sơn đã trộm cắp, 01 xe kéo bằng kim loại dài 2,8m, rộng 0,1m; 01 xe môtô Wave gắn biển kiểm soát: 36N1.080.65.
Tại kết luận định giá trong tố tụng hình sự số: 83/KL-HĐĐGTS ngày 29/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố S. Kết luận: Giá trị tài sản (11 thùng sơn tường ký hiệu K229GOLD, K119GOLD, K889GOLD, CT11K tại thời đểm trộm cắp ngày 24/12/2023 là 21.370.000 đồng (hai mươi mốt triệu ba trăm bảy mươi nghìn đồng).
Tại kết luận giám định số: 146/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của phòng K2 Công an tỉnh T. Kết luận: Không xác định được nội dung hình ảnh của 02 đoạn video có bị chỉnh sửa, cắt ghép hay không. Cơ quan CSĐT Công an thành phố S đã tiến hành làm việc, Nguyễn Duy S xác nhận người trong đoạn video trên là mình khi đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Vụ thứ hai:
Quá trình điều tra Nguyễn Duy S còn khai báo, khoảng 00 giờ 00 phút ngày 22/7/2023, Nguyễn Duy S điều khiển xe môtô Wave gắn biển kiểm soát: 36N1.080.65 từ nhà mang theo một thanh sắt đi xuống thành phố S để trộm cắp tài sản. Khi đi qua cửa hàng sửa chữa điện lạnh của anh Vũ Đình K, sinh năm 1971 tại đường T, thuộc tổ dân phố (TDP). N, phường Q, thành phố S đang khóa cửa ngoài nên S nảy sinh ý định phá cửa đột nhập trộm cắp tài sản. Nguyễn Duy S dựng xe ở ngã 4 đèn xanh, đèn đỏ đường N thuộc phường Q rồi lấy thanh sắt chuẩn bị từ trước quay lại dùng thanh sắt cậy phá cửa xếp đi vào nhà, bật đèn điện thoại lấy trộm 6,5kg dây đồng vụn, 04 cuộn dây đồng chưa sử dụng mỗi cuộn dài 15cm, đường kính 1,2cm; 01 cục lạnh điều hòa Panasonic 12.000BTU, 02 cục lạnh điều hòa LG 12.000 BTU đã qua sử dụng để ra cửa. Sau đó S chở 03 cục điều hòa ra nghĩa trang phía sau Ủy ban nhân dân phường Q cất dấu rồi quay lại chở bì đồng về nhà. Đến khoảng 8 giờ 00 phút ngày 23/7/2023 S mang toàn bộ số tài sản trộm cắp bán cho chị Đỗ Thị D, sinh năm ở TDP. Kiều Đại, phường Q, thành Phố S được 2.110.000 đồng rồi tiêu sài cá nhân hết. Sau đó chị D đã bán số lõi đồng trên cùng một số phế liệu khác, không nhớ cụ thể bán cho ai, bán được bao nhiêu tiền (khi bán S nói với chị D đây là đồng thừa của gia đình không sử dụng nên bán).
Đến khoảng 08 giờ 45 ngày 22/7/2023 kiểm tra, phát hiện bị mất tài sản, anh Vũ Đình K đã đến công an phường Q sự việc.
Sau khi tiếp nhận C1 phường Q đã rà soát hình ảnh Camera an ninh, tiến hành xác minh tuy nhiên không hiện đối tượng nghi vấn.
Tại kết luận định giá trong tố tụng hình sự số: 02/KL-HĐĐGTS ngày 28/01/2024 của hội đồng định giá tài sản thành phố S. Kết luận:
- - 01 (một) cục lạnh điều hòa Panasonic 12.000BTU đã qua sử dụng: 600.000 đồng
- - 02 (hai) cục lạnh điều hòa LG 12.000 BTU, đã qua sử dụng: 1.000.000 đồng
- - 04 (bốn) cuộn dây đồng chưa sử dụng mỗi cuộn dài 15cm, đường kính 1,2cm: 3.600.000 đồng
- - 6,5kg dây đồng vụn: 1.400.000 đồng
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt tại thời điểm trộm cắp ngày 22/7/2023 là: 6.240.000 đồng (sáu triệu, hai trăm bốn mươi nghìn đồng).
Vật chứng của vụ án:
- - 06 thùng sơn, nhãn hiệu KEVIN là tài sản thuộc sở hữu của anh Đàm Văn N. Cơ quan CSĐT Công an thành phố S đã ra quyết định trả lại cho anh Đàm Văn N.
- - 01 (một) xe kéo bằng kim loại dài 2,8m, rộng 0,1m; 01 xe môtô Wave gắn biển kiểm soát: 36N1.080.65, Nguyễn Duy S sử dụng đi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định tài sản nói trên thuộc sở hữu của ông Nguyễn Duy S1, việc S sử dụng đi trộm cắp tài sản ông S1 không biết, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu và không ý kiến gì.
- - 01 (một) thanh sắt kích thước dài 1,3m, đường kính 02cm được chuyển đến chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn để xử lý theo quy định của pháp luật
Đối với chiếc điện thoại bị cáo dùng để soi đèn pin khi trộm cắp đã bị hỏng nên bị cáo đã vứt, không nhớ là vứt ở đâu nên cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra anh Đàm Văn N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về mặt dân sự.
Đối với anh Nguyễn Bá H1, là người mua 02 thùng sơn của bị cáo S với giá 200.000đ và nhặt được 01 thùng sơn. Khi mua và nhặt tài sản trên, anh H1 không biết đó là tài sản do S phạm tội mà có và cũng không có tài liệu chứng minh anh H1 biết việc trộm cắp của S nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. Anh H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường về mặt dân sự.
Đối với anh Vũ Đình K: Trong quá trình điều tra, anh K yêu cầu bị cáo S bồi thường cho anh số tiền 7.000.000đ; Sau khi vụ án đưa ra xét xử anh có văn bản thay đổi ý kiến đề nghị bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại về tài sản đã trộm cắp theo giá trị đã định giá là 6.240.000đ.
Đối với chị Đỗ Thị D đã mua tài sản trộm cắp Đặng Đình D1 đem đến bán nhưng không biết tài sản do D1 phạm tội mà có nên đã bán lại cho người không rõ nhân thân, lai lịch. Vì vậy không có căn cứ để xử lý.
Còn đối với bà Lê Thị T1, ông Lê Văn H2 nhặt số tài sản mà Nguyễn Duy S trộm cắp nhưng không biết đó là tài sản trộm cắp, đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố S không xử lý.
Trong lần trộm cắp ngày 22/7/2023, bị hại Vũ Đình K khai báo tài sản bị trộm cắp lớn hơn so với lời khai của bị can Nguyễn Duy S tuy nhiên không cung cấp được các tài liệu nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố S không có căn cứ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 23/CTr-VKS ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Duy S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
- - Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả định giá.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1Điều 173; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Duy S từ 18 đến 24 tháng tù.
Về tang vật: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh sắt do không còn giá trị sử dụng ;Về dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Vũ Đình K số tiền 6.240.000đ; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, Lời nói sau cùng đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và đều vắng mặt (anh K đã có đơn xin xét xử vắng mặt), việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử của vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiến hành xét xử vắng mặt các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra và các vật chứng thu được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 00 giờ 00 phút ngày 22/7/2023 và khoảng 13 giờ ngày 24/12/2023 Nguyễn Duy S đã lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt của anh Vũ Đình K 5kg dây đồng vụn, 04 cuộn dây đồng, 01 cục lạnh điều hòa Panasonic 12.000BTU, 02 cục lạnh điều hòa LG 12.000 BTU trị giá 6.240.000 đồng tại cửa hàng Đ1 trên đường T, TDP N, phường Q, TP S và 11 thùng sơn, nhãn hiệu KEVIN trị giá 21.370.000 đồng tại nhà văn hóa Đ cũ ở phố L, phường B, TP S của anh Đàm Văn N. Tổng giá trị tài sản các lần trộm cắp là 27.610.00₫ (hai bảy triệu sáu trăm mười nghìn đồng).
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Duy S có đủ dấu hiện cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS như đề nghị của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tính chất vụ án: Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe và có khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội. Nhưng chỉ muốn hưởng lợi không bằng sức lao động của bản thân, bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp, thể hiện bị cáo là người rất liều lĩnh, xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo S phạm tội 02 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS
Bị cáo S có nhân thân xấu đã từng nhiều lần bị kết án về tội “Cướp giật tài sản”, nhưng vẫn không chịu cải sửa mà còn tiếp tục phạm tội “Trộm cắp tài sản” chứng tỏ bị cáo không chịu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật. Vì vậy cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, đã ra đầu thú. Nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.
Về phần bồi thường dân sự:
Bị cáo chưa bồi thường về mặt dân sự cho bị hại K và bị hại Khoa yêu cầu bị cáo phải bồi thường toàn thiệt hại bị cáo đã chiếm đoạt theo giá trị đã định giá. Yêu cầu của bị hại là có căn cứ chấp nhận nên buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại về mặt dân sự cho bị hại Vũ Duy K1 là 6.240.000 đồng.
Bị hại N đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu gì thêm nên công nhận phần dân sự giữa bị cáo và bị hại đã được giải quyết xong.
Đối với anh Nguyễn Bá H1, là người mua tài sản trộm cắp của bị cáo S với số tiền 200.000₫ mà không biết là tài sản trộm cắp, anh H1 đã giao nộp cho cơ quan Công an hai thùng sơn đã mua và không yêu cầu bị cáo bồi thường về mặt dân sự. Vì vậy Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của anh H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường về phần dân sự.
Về hình phạt bổ sung : Bị cáo S không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
Xử lý vật chứng: Đối với 01 thanh sắt kích thước dài 1,3m, đường kính 2cm là phương tiện dùng vào việc phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 47 BLHS, khoản 1,2 Điều 106, khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 BLTTHS. Điểm a,c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Điều 584 BLDS 2015
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy S phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy S 21 (hai mốt ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 26/12/2023.
Không xử phạt hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Duy S.
Về Trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Vũ Duy K1 số tiền 6.240.000₫ (sáu triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng).
Công nhận phần dân sự giữa bị cáo với anh Đàm Văn N đã giải quyết xong.
Công nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Bá H1 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Duy S bồi thường về dân sự.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán số tiền phải thi hành án thì hàng tháng còn phải trả lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh sắt kích thước dài 1,3m đường kính 2cm. Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng số 26/BBVC-CCTHA ngày 07/3/2024.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Duy S phải chịu 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 312.000đ (ba trăm mười hai nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự .
Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Duy S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh K1, anh N, anh H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Long |
Bản án số 19/2024/HSST ngày 22/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 19/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS xử phạt Nguyễn Duy Sơn 21 Tháng tù
