Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/DS-ST

Ngày: 22/4/2024

V/v “ Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU-TP ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Loan
  • - Các Hội thẩm nhân dân:Ông Huỳnh Thanh Trà và ông Phạm Công Lương
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na - Kiểm sát viên.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu - 344 A, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 267/2023/TLST - DS ngày 25/10/2023 về việc “ Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXX-ST ngày 23/02/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-DS ngày 22/3/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đặng Nguyên V, sinh năm 1981. Địa chỉ: K T, quận H, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là: Bà Phan Thị Nhật T, sinh năm 1985 (Vào sổ chứng nhận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp số 09 ngày 16/11/2023). Địa chỉ: A Hồ S, quận S, thành phố Đà Nẵng, có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1981. Địa chỉ theo đơn khởi kiện: D T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ liên hệ: 63 H, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt lần thứ hai không lý do.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 02/10/2023 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:

Ngày 08/3/2019, sau khi ký kết Hợp đồng góp vốn số B04/2019/BBL-HĐGV giữa 03 bên gồm: ông Đặng Nguyên V, ông Nguyễn Ngọc T1 và Công ty CP T11 tại Công ty CP T11 với trị giá 3.610.897.200 đồng.

Thông tin lô đất: Ký hiệu lô đất B-04, diện tích lô đất 93,52 m², đơn giá sau chiết khấu 38.610.000 đồng/m², việc thanh toán được chia thành các đợt:

  • - Đợt 1: Ngày ký Hợp đồng (08/3/2019) thanh toán 30%;
  • - Đợt 2: 07 ngày sau khi thanh toán đợt 1 (15/3/2019) thanh toán 40%;
  • - Đợt 3: 30 ngày sau khi thanh toán đợt 1 (08/4/2019) thanh toán 20%;
  • - Đợt 4: Khi có thông báo công chứng sang nhượng quyền sử dụng đất thì thanh toán 10% còn lại (bao gồm phần chênh lệch theo diện tích của lô đất trên sổ). Tối đa 90 ngày làm việc kể từ ngày đặt cọc Đợt 1, được gia hạn thêm 60 ngày làm việc.

Thực hiện Hợp đồng, ông V đã thanh toán 03 đợt tương ứng theo Hợp đồng, lần 1: 1.083.242.160 đồng, lần 2: 1.444.322.880 đồng và lần 3: 722.161.440 đồng. Tính đến thời điểm ngày 29/10/2019, ông V đã thanh toán 3.249.725.600 đồng.

Theo Hợp đồng ông T1 thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất sau 90 ngày làm việc kể từ ngày đặt cọc tại văn phòng C3, thực tế ông T1 không thực hiện.

Ngày 29/10/2019 và 27/12/2019, ông T1 gửi thông báo và cam kết về việc hoàn tiền kèm theo lãi suất 08% số tiền đã thanh toán. Trong văn bản ngày 27/12/2019, ông T1 nêu rõ đã hoàn trả 600.000.000 đồng và xác nhận còn nợ ông V 2.909.703.648 đồng.

Từ tháng 3/2020 đến 12/2022, ông T1 có thực hiện trả lãi theo cam kết với tổng số tiền là 1.312.776.000 đồng. Đầu năm 2023, ông T1 đưa ra đề nghị số tiền ông trả tính theo lãi suất ngân hàng N, phần dư đưa qua trả phần gốc. Tuy nhiên từ đó đến nay, sau nhiều lần ông V liên hệ ông T1 để giải quyết dứt điểm số tiền nợ còn lại, ông T1 không hợp tác.

Như vậy số tiền lãi từ ngày 27/01/2020 đến ngày 27/01/2023 là 36 tháng x 2.909.703.648 đồng x 9%/năm = 785.619.985 đồng.

Ông T1 đã trả cho ông V nhiều lần tổng cộng là 1.312.766.000 đồng, được trừ số tiền lãi 785.619.985 đồng, còn lại 527.156.015 đồng.

Tính đến ngày 28/01/2023 ông T1 còn nợ ông V số nợ gốc: 2.909.703.648 đồng - 527.156.015 đồng = 2.382.547.633 đồng.

Nay ông V đề nghị Toà án buộc ông T1 phải trả cho ông nợ gốc là: 2.382.547.633 đồng. Tiền lãi tạm tính từ ngày 28/01/2023 đến ngày 22/4/2024 là 14 tháng 25 ngày x 9% x 2.382.547.633 = 265.058.424 đồng.Tổng cộng gốc và lãi là: 2.382.547.633 đồng + 265.058.424 đồng = 2.647.606.057 đồng.

Đối với bị đơn là ông Nguyễn Ngọc T1 kể từ khi thụ lý vụ án cho đến nay không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và thông báo phiên họp nêu trên. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt lần thứ 2 nhưng vẫn không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu phát biểu ý kiến như sau:

+ Về tố tụng: Thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng.

+ Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 280, 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Nguyên V, buộc ông Nguyễn Ngọc T1 phải hoàn trả cho ông Đặng Nguyên V tổng số tiền 2.647.606.057 đồng (trong đó, nợ gốc là 2.382.547.633 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 22/4/2024 là 265.058.424 đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn là ông Nguyễn Ngọc T1 nhưng ông T1 vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung tranh chấp:

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền 2.647.606.057 đồng, trong đó nợ gốc là 2.382.547.633 đồng, tiền lãi tạm tính từ ngày 28/01/2023 đến ngày 22/4/2024 là 265.058.424 đồng. Còn bị đơn vắng mặt và không có ý kiến phản hồi.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Ngày 08/3/2019, ông Đặng Nguyên V và ông Nguyễn Ngọc T1 có ký kết Hợp đồng góp vốn số B04/2019/BBL-HĐGV, nhằm mục đích góp vốn và nhận chuyển nhượng bất động sản tại dự án Khu dân cư K đối với thửa đất số 38, tờ bản đồ số 45, tổ A, phường K, quận C, TP Đà Nẵng, ký hiệu lô đất là B-04, diện tích 93,52m². Theo thỏa thuận, ông V đã hoàn thành nghĩa vụ thanh toán đầy đủ 90% giá trị lô đất (đã bao gồm khoản tiền đặt cọc theo thỏa thuận) tương ứng với số tiền 3.249.725.648 đồng và ông T1 cam kết trong thời hạn 90 ngày làm việc kể từ ngày đặt cọc đợt 1 ông T1 phải tiến hành ký kết, công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông V. Tuy nhiên, khi đến thời hạn ông T1 đã không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận. Ngày 29/10/2019, ông T1 có Thông báo gửi cho ông Đặng Nguyên V, đồng ý trả cho ông V số tiền là 3.509.703.648 đồng, với phương thức thanh toán như sau:

  • - Đợt 1: Trong vòng 7 ngày kể từ ngày khách hàng ký Hợp đồng thanh lý Hợp đồng góp vốn số B04/2019/BBL-HĐGV, chủ đầu tư sẽ hoàn trả lại 30% số tiền mà khách hàng đã thanh toán là 974.917.680 đồng.
  • - Đợt 2: Chủ đầu tư có trách nhiệm hoàn trả đủ 100% số tiền khách hàng đã thanh toán kèm lãi suất 8% sau 15 ngày kể từ ngày hoàn trả đợt 1. Số tiền hoàn trả đợt này là 2.534.785.968 đồng.

Đến ngày 19/11/2019, ông T1 mới hoàn trả được số tiền 600.000.000 đồng. Ngày 27/12/2019, ông T1 tiếp tục gửi Cam kết với nội dung ông T1 sẽ hoàn trả số tiền còn lại 2.909.703.648 đồng trước ngày 31/3/2020 kèm lãi suất 2%/tháng. Tuy nhiên, ông T1 vẫn không thực hiện theo đúng cam kết.

Ông V xác nhận từ tháng 3/2020 đến tháng 12/2022, ông T1 có thực hiện nghĩa vụ trả lãi theo cam kết với tổng số tiền 1.312.776.000 đồng. Đối với số lãi ông T1 đã trả nay ông V đồng ý tính lại mức lãi theo quy định của Ngân hàng N là 9%/năm, phần chênh lệch ông V sẽ trừ vào số tiền gốc.

Số tiền lãi từ ngày 27/01/2020 đến ngày 27/01/2023 là 36 tháng x 2.909.703.648 đồng x 9%/năm = 785.619.985 đồng.

Tính đến ngày 28/01/2023 ông T1 còn nợ ông V số nợ gốc: 2.909.703.648 đồng - 527.156.015 đồng = 2.382.547.633 đồng.

Nay ông V đề nghị Toà án buộc ông T1 phải trả cho ông nợ gốc là: 2.382.547.633 đồng. Tiền lãi tạm tính từ ngày 28/01/2023 đến ngày 22/4/2024 là 14 tháng 25 ngày x 9% x 2.382.547.633 = 265.058.424 đồng.Tổng cộng gốc và lãi là: 2.382.547.633 đồng + 265.058.424 đồng = 2.647.606.057 đồng.

Tại Cam kết ngày 27/12/2019, ông Nguyễn Ngọc T1 cam kết sẽ hoàn trả cho ông Đặng Nguyên V số tiền 2.909.703.648 đồng. Đến nay, ông T1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền là vi phạm thỏa thuận giữa các bên, do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Nguyên V buộc ông Nguyễn Ngọc T1 thanh toán số tiền gốc 2.382.547.633 đồng là phù hợp với Điều 280 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Đối với số tiền lãi tạm tính từ ngày 28/01/2023 đến ngày 22/4/2024 là 265.058.424 đồng, HĐXX xét thấy mức lãi suất 9%/năm mà ông V yêu cầu thấp hơn mức lãi suất mà các bên thỏa thuận, đồng thời thấp hơn mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, có lợi cho bị đơn nên cần được chấp nhận.

Từ những phân tích trên, cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông V, buộc ông T1 phải thanh toán cho ông V tổng cộng là 2.647.606.057 đồng, trong đó nợ gốc là 2.382.547.633 đồng, tiền lãi tạm tính từ ngày 28/01/2023 đến ngày 22/4/2024 là 265.058.424 đồng.

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, ông T1 còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền nêu trên theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Xét thấy lời đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm, nội dung giải quyết vụ án là có cơ sở nên chấp nhận.

- Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu là 84.952.121 đồng. H tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ Điều 280, Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Nguyên V về việc “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền” đối với ông Nguyễn Ngọc T1.

  1. Xử :
  2. Buộc ông Nguyễn Ngọc T1 phải trả cho ông Đặng Nguyên V số tiền 2.647.606.057 đồng, trong đó nợ gốc là 2.382.547.633 đồng, tiền lãi tạm tính từ ngày 28/01/2023 đến ngày 22/4/2024 là 265.058.424 đồng.

    Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, ông T1 còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền nêu trên theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  3. Án phí DSST:
  4. Án phí DSST là 84.952.121 đồng ông Nguyễn Ngọc T1 phải chịu. H lại số tiền tạm ứng án phí 48.436.502 đồng mà ông Đặng Nguyên V đã nộp theo biên lai thu số 1255 ngày 16/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu.

  5. Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận (hoặc niêm yết) bản án. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q. Hải Châu;
  • - C4;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Thị Hồng Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2024/DS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền

  • Số bản án: 19/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger