TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2024/HS-ST Ngày: 21 - 5 -2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Mai Xuân Minh;
- Ông Nguyễn Anh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Quang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 2 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS ngày 12/3/2024, đối với bị cáo:
Đinh Thị T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1967 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Hoa Đ (đã chết) và bà Đinh Thị L (đã chết); chồng Cao Xuân H, sinh năm 1963; con có 04 người, con lớn nhất sinh năm 1990 nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án: Không; tiền sự: có 01 tiền sự về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, bị Công an huyện T xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 4.000.000 đồng theo Quyết định xử phạt hành chính số 10041/QĐ-XPHC ngày 12/9/2023. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 14/12/2023 đến nay, bị cáo tại ngoại, vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
- Người làm chứng:
- + Ông Cao Xuân H, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
- + Anh Cao Thanh T2, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình,vắng mặt.
- + Anh Đinh Thanh L1, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ 45 phút, ngày 05/10/2023, anh Nguyễn Văn T1 đi ra vườn keo của của gia đình để làm hàng rào. Một lúc sau thấy Đinh Thị T trú cùng thôn dẫn theo anh Cao Thanh T2 và anh Đinh Thanh L1 ở cùng thôn đi lên vườn keo. Do vườn keo này trước đó đã xảy ra tranh chấp, đã được Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa giải quyết, bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bà T không chấp hành. Anh T1 có hỏi anh T2 và anh T1 thì được biết bà T dẫn hai anh đi xem cây keo để bán, nên anh T1 nói với anh T2 và anh T1 không mua cây phía bên phần đất của mình (đã có hàng rào phân chia). Lúc này giữa anh T1 và bà T xảy ra mâu thuẫn, cải vã nhau. Sau đó, bà T đã dùng cây rựa chém một nhát trúng vào gót chân trái của anh T1. Hậu quả: Anh T1 bị thương được đưa đi cấp cứu tại Trạm y tế xã H, huyện T và được đưa đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đến ngày 11/10/2023 thì ra viện.
Tại bản kết luận giám định số 170/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 17/11/2023 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Q, kết luận:
- + Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T1 tại thời điểm giám định là 12%.
- + Vật gây thương tích: Thương tích nêu trên là do vậy sắc gây ra.
- + Tính chất thương tích: Thương tích nêu trên không gây nguy hiểm cho tính mạng.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 cái rựa dài 89 cm, lưỡi rựa dài 29 cm, cán rựa bằng gỗ dài 60 cm, rựa đã cũ, đã qua sử dụng.
* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra anh Nguyễn Văn T1 đã yêu cầu bị cáo Đinh Thị T phải bồi thường các khoản gồm: Tiền viện phí, tổn thất tinh thần và các chi phí khác với tổng số tiền 10.300.000 đồng, nhưng tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Văn T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 9.206.935 đồng. Đến trước khi mở phiên tòa (08 giờ ngày 21/5/2024), bị cáo tác động người thân bồi thường toàn bộ số tiền trên (Nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình theo biên lai thu tiền số 0000013 ngày 16/5/2024 và biên lai thu tiền số 0000051 ngày 21/5/2024).
Bản Cáo trạng số 06/CT-VKSTH ngày 06 tháng 02 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa đã truy tố bị cáo Đinh Thị T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (Thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 65 của Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Thị T từ 24 tháng đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng; về trách nhiệm dân sự, buộc bị cáo Đinh Thị T phải bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn T1 những chi phí hợp lý theo quy định
3
của pháp luật; về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 cái rựa (có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/02/2024 giữa cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa); về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố, trong đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Đinh Thị T vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của bị cáo không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án do bị cáo đã có lời khai đầy đủ trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị cáo.
[3] Về cấu thành tội phạm:
Mặc dù bị cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng qúa trình điều tra, bị cáo Đinh Thị T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng; phù hợp với biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ án, biên bản xem xét dấu vết trên thân thể, kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Xuất phát từ mâu thuẩn cá nhân trong vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất trước đó, khoảng 08 giờ 45 phút ngày 05/10/2023, tại vườn keo của gia đình anh Nguyễn Văn T1 thuộc địa phận thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình, Đinh Thị T đã có hành vi dùng rựa là hung khí nguy hiểm chém một nhát vào gót chân trái của anh Nguyễn Văn T1, hậu quả làm anh Nguyễn Văn T1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể hiện tại là 12%. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Đinh Thị T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi đó trực tiếp xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của người
4
khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội ở địa phương, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (Thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) của Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố bị cáo Đinh Thị T về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo trong vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, mang tính nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, trực tiếp xâm phạm đến đến sức khỏe của anh Nguyễn Văn T1, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Mặc dù bị cáo vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải; tác động người thân đã bồi thường toàn bộ nghĩa vụ dân sự cho bị hại, bị cáo có mẹ là người có công với cách mạng (bà Đinh Thị L được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng) và bị cáo là cá nhân thuộc hộ cận nghèo. Do đó, HĐXX qua thảo luận, đánh giá quyết định áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo.
[7] Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích, bị cáo có một tiền sự về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, bị Công an huyện T quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 4.000.000 đồng, nên bị cáo có nhân thân không tốt.
[8] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cho thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó, HĐXX xét thấy chưa cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng mức, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Văn T1 yêu cầu bị cáo Đinh Thị T bồi thường số tiền 10.300.000 đồng (bao gồm tiền viện phí, tiền thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại, tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc và tiền tổn thất tinh thần...) nhưng tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Văn T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 9.206.935 đồng. Đến nay bị cáo đã tác động người thân bồi thường toàn bộ số tiền trên cho bị hại (Theo biên lai thu tiền số 0000013 ngày 16 tháng 5 năm 2024 và biên lai thu tiền số 0000051 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình). Hội đồng xét xử xét thấy thiệt hại về sức khỏe của anh Nguyễn Văn T1 do chính hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo Đinh Thị T gây ra nên yêu cầu bồi thường thiệt hại của anh Nguyễn Văn T1 đối với bị cáo là có căn cứ, đúng với quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 584, Điều 590 của Bộ luật dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có
5
trong hồ sơ vụ án, lời trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1 nhưng thiệt hại sau:
- - Tiền viện phí: 1.056.935 đồng;
- - Tiền sơ, cấp cứu tại Trạm y tế: 150.000 đồng;
- - Tiền xe đi lại: 500.000 đồng;
- - Tiền thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong 06 ngày x 300.000 đồng/ngày = 1.800.000 đồng;
- - Tiền thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc trong 06 ngày x 250.000 đồng/ngày = 1.500.000 đồng;
- - Tiền bồi dưỡng trong quá trình nằm viện điều trị: 06 ngày x 100.000 đồng /ngày = 600.000 đồng
- - Tiền tổn thất về tinh thần: 02 tháng lương cơ sở x 1.800.000 đồng/ tháng = 3.600.000 đồng.
Tổng số tiền mà bị cáo Đinh Thị T phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn T1 là 9.206.935 đồng.
[10] Về xử lý vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát Điều tra có thu giữ vật chứng của vụ án là một cái rựa. Qua xem xét, Hội đồng xét xử thấy rựa là công cụ mà bị cáo Đinh Thị T dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Về án phí: Buộc bị cáo Đinh Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134), các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 2 Điều 106, điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 21, 23, 24 và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Thị T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đinh Thị T 25 (hai mươi lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 50 (năm mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/5/2024.
Giao bị cáo Đinh Thị T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể
6
quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 cái rựa (có đặc điểm như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/02/2024 giữa cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa).
- Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Đinh Thị T phải bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Quảng Bình số tiền 9.206.935 đồng (Chín triệu, hai trăm linh sáu nghìn, chín trăm ba lăm đồng). Bị cáo Đinh Thị T đã nộp đủ (Theo biên lai thu tiền số 0000013 ngày 16 tháng 5 năm 2024 và biên lai số 0000051 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình).
Bị hại Nguyễn Văn T1 được nhận số tiền 9.206.935 đồng do bị cáo Đinh Thị T bồi thường (Theo biên lai thu tiền số 0000013 ngày 16 tháng 5 năm 2024 và biên lai số 0000051 ngày 21/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
- Về án phí:
Bị cáo Đinh Thị T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 460.346 đồng (Bốn trăm sáu mươi nghìn, ba trăm bốn mươi sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/5/2024) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử lại theo trình tự phúc thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Văn Tuấn |
Bản án số 19/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 19/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Thị T
