Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/KDTM-PT

Ngày 08-12-2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Vương.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng và ông Hoàng Hữu Tăng

Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Mạnh Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 91/2025/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2025/QĐXXPT-DS ngày 28 tháng 10 tháng 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 160/2025/QĐPT-DS ngày 21 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng N1;

Địa chỉ: Số B L, phường G, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V- Chức vụ: Tổng Giám đốc;

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Hồng Q – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N1 – Chi nhánh H.

Người được uỷ quyền lại: Ông Ngô Đức T – Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng N1 – Chi nhánh H (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Hoàng Thị Tuyết N, sinh năm 1975 và ông Nguyễn Quang L, sinh năm 1972; Cùng địa chỉ: Thôn Â, xã H, tỉnh Hưng Yên (Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt; Ông L vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn - Ngân hàng N1 trình bày: Ngày 30/8/2019 Ngân hàng N1 (sau đây gọi tắt là A) kí hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản với vợ chồng bà Hoàng Thị Tuyết N. Theo Hợp đồng tín dụng số 2409LAV201802182 ngày 30/08/2018 thì: Hạn mức tín dụng: 2.000.000.000 đồng; Thời hạn hạn mức tín dụng: 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng; Mục đích vay để kinh doanh vật liệu xây dựng, gạch ốp lát và thiết bị vệ sinh; Lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng là 9%/ năm và được điều chỉnh theo từng thời điểm; Phương thức trả nợ: Trả nợ gốc, lãi theo thời hạn ghi tại giấy nhận nợ; Dư nợ gốc đến ngày 26/02/2025: 1.854.000.000 đồng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là quyền sử dụng thửa đất số 213, tờ bản đồ số 09 cùng toàn bộ tài sản gắn liền trên đất tại địa chỉ thôn Â, xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn Â, xã H, tỉnh Hưng Yên) theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 3082016N/HĐTC ký ngày 11 tháng 08 năm 2016 đã được công chứng tại Văn phòng C và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Â.

Thực hiện theo nội dung Hợp đồng tín dụng số 2409LAV201802182 ngày 30/08/2018, A đã giải ngân cho vợ chồng bà N số tiền là 2.000.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, vợ chồng bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, dẫn đến khoản vay bị nợ quá hạn kéo dài. Mặc dù, A đã nhiều lần làm việc cùng khách hàng, đôn đốc trả nợ và yêu cầu nhiều lần phải trả hết khoản nợ quá hạn trên. Tuy nhiên, vợ chồng bà N không phối hợp, hợp tác với ngân hàng trong việc trả nợ dứt điểm khoản nợ quá hạn nói trên. Từ khi giải ngân đến nay gia đình bà N mới thanh toán được số tiền gốc là 146.000.000 đồng. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, A đã khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Buộc bà Hoàng Thị Tuyết N và ông Nguyễn Quang L thanh toán toàn bộ số tiền gốc còn lại, lãi và phí phát sinh cho Ngân hàng N1 - Chi nhánh H theo hợp đồng tín dụng số 2409LAV201802182 ngày 30/08/2018 và phụ lục kèm theo mà hai bên đã ký; Chi tiết gốc, lãi đến hết ngày 26/02/2025 như sau:
  • + Nợ gốc quá hạn là: 1.854.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ tám trăm năm mươi bốn triệu đồng).
  • + Nợ lãi các loại là: 1.480.407.280 đồng (Trong đó: lãi trong hạn: 1.013.687.663 đồng; lãi quá hạn: 466.719.617 đồng). Phát sinh theo thỏa thuận đã ký kết theo Hợp đồng tín dụng đã ký giữa 2 bên.

Tổng cộng số tiền là: 3.334.407.280 đồng

  • - Trường hợp bà Hoàng Thị Tuyết N và ông Nguyễn Quang L không thực hiện trả nợ Ngân hàng N1 - Chi nhánh H thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm còn lại của bà Hoàng Thị Tuyết N và ông Nguyễn Quang L để thu hồi nợ theo qui định pháp luật.
  • - Đề nghị Tòa tuyên bà Hoàng Thị Tuyết N và ông Nguyễn Quang L phải tiếp tục thanh toán các khoản lãi phát sinh kể từ ngày 27/02/2025 cho Ngân hàng N1 - Chi nhánh H cho đến khi trả hết nợ.
  • - Nếu vẫn không trả hết toàn bộ nợ (gốc, lãi và phí phát sinh liên quan (nếu có) thì Ngân hàng N1 - Chi nhánh H tiếp tục yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc sở hữu, sử dụng của bà Hoàng Thị Tuyết N và ông Nguyễn Quang L để thu hồi khoản vay của bà Hoàng Thị Tuyết N và ông Nguyễn Quang L tại Ngân hàng N1 - Chi nhánh H.

* Lời khai của bị đơn bà Hoàng Thị Tuyết N trình bày trình bày: Bà vay tiền của A từ năm 2010 để kinh doanh làm ăn, sau đó đáo hạn nhiều lần chốt đến năm 2018 theo Hợp đồng tín dụng thì bà còn nợ ngân hàng 2.000.000.000 đồng. Bà đã trả ngân hàng tiền gốc là 146.000.000 đồng, tiền lãi bà đã được một thời gian nhưng không nhớ đến ngày tháng năm nào. Việc ngân hàng tính lãi đến thời điểm này là quá nhiều nên bà không đồng ý. Khi vay tiền của ngân hàng thì bà có thế chấp mảnh đất của vợ chồng là thửa số 213, tờ bản đồ số 09 tại thôn Â, xã H, tỉnh Hưng Yên; trên đất có ngôi nhà 03 tầng do vợ chồng bà xây. Bà chỉ đồng ý trả tiền gốc cho A còn tiền lãi bà đề nghị ngân hàng miễn lãi cho bà vì năm 2018 bà đã có đơn đề nghị với ngân hàng cho bà xin trả gốc và khoanh lãi lại, không tiếp tục tính lãi nữa. Bà đề nghị ngân hàng cho bà trả nợ dần và có thời gian để bà bán nhà đất trả nợ cho ngân hàng.

Bản án số 02/2025/KDTM-ST ngày 24/7/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Hưng Yên đã quyết định:

Căn cứ vào: Điều 116, 117, 119, khoản 1 Điều 275, Điều 280, Điều 288, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 12 của Luật ngân hàng N2; Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1: Buộc bà Hoàng Thị Tuyết N và ông Nguyễn Quang L có trách nhiệm thanh toán trả Ngân hàng N1 tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (24/7/2025) là

3.394.833.227 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 1.814.000.000 đồng; nợ lãi là: 1.580.833.227 đồng.

Kể từ ngày 25/7/2025, nếu ông L, bà N không trả được số tiền nợ gốc thì ông L, bà N có trách nhiệm tiếp tục phải chịu lãi suất phát sinh trên dư nợ gốc còn lại theo mức lãi suất nợ quá hạn và nợ phí phát sinh theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng N1.

Trường hợp bà N, ông L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1 thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm còn lại của bà N và ông L để thu hồi nợ theo quy định pháp luật. Nếu vẫn không trả hết toàn bộ nợ gốc, lãi và phí phát sinh liên quan (nếu có) thì Ngân hàng N1 - Chi nhánh H tiếp tục yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà N và ông L để thu hồi nợ.

Về án phí: Vợ chồng bà N phải chịu 99.896.664 x 50% =49.948.332 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả Ngân hàng N1 số tiền 49.000.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001464 ngày 26/03/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Thi.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Sau khi tuyên án, các đương sự không kháng cáo bản án sơ thẩm.

Ngày 24 tháng 7 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên kháng nghị bản án sơ thẩm theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 10/QĐ-VKS-KDTM đối với bản án sơ thẩm số 02/2025/KDTM-ST của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên, nội dung kháng nghị: Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, buộc ông L và bà N phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

* Tại đơn xin xét xử vắng mặt, bà Hoàng Thị Tuyết N trình bày: Hiện gia đình bà đang gặp rất nhiều khó khăn, vợ chồng bà là lao động tự do, thu nhập không ổn định, đang nuôi hai con học đại học, một con thì thường xuyên ốm đau. Bà N đã có đơn xin miễn giảm án phí được chính quyền địa phương xác nhận. Bà đã nộp đơn này cho Toà án cấp sơ thẩm. Nay bà đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà đề nghị Toà án xét xử vắng mặt vợ chồng bà.

* Tại đơn xin xét xử vắng mặt, ông Ngô Đức T trình bày: Quan điểm của Ngân hàng đã được thể hiện tại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo trong quá trình giải quyết vụ án và vụ án đã được Toà án nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên xét xử. Về kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, Ngân hàng đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng nghị và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông L, bà N phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Xét thời hạn kháng nghị:

Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 10/QĐ-VKS-KDTM ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên gửi trong hạn luật định nên vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Sự có mặt của đương sự:

Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Ngô Đức T và bị đơn là bà Hoàng Thị Tuyết N có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Quang L vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo trình tự vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên:

Tại đơn xin miễn án phí và đơn xin xét xử vắng mặt của bị đơn bà Hoàng Thị Tuyết N trình bày: Vợ chồng bà vay tiền của Ngân hàng N1, một phần để kinh doanh và một phần vay hộ người khác. Tuy nhiên, việc kinh doanh bị thua lỗ, những người bà vay hộ tiền cũng bị vỡ nợ nên không có tiền trả cho bà. Mặc khác, hiện nay hoàn cảnh gia đình bà rất khó khăn do công việc của vợ chồng bà không ổn định, phải nuôi hai con ăn học, một con thường xuyên ốm đau. Hoàn cảnh của gia đình bà đã được UBND xã H, huyện Â, tỉnh Hưng Yên (cũ) xác nhận. Tại đơn xin miễn án phí chỉ có chữ kí của bà N, không có chữ ký của ông L.

Xét, bị đơn không thuộc diện không phải nộp tiền án phí hoặc được miễn án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 11 và Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định: Giảm tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án:

“1. Người gặp sự kiện bất khả kháng dẫn đến không có đủ tài sản để nộp tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú thì được Tòa án giảm 50% mức tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án mà người đó phải nộp."

Tại khoản 1 Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về trường hợp bất khả kháng hay còn gọi là sự kiện bất khả kháng như sau:

“Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”

Đối chiếu các quy định nêu trên thì bị đơn kinh doanh thua lỗ, hoàn cảnh khó khăn không phải là trường hợp được giảm án phí sơ thẩm.

Từ những phân tích trên, HĐXX thấy có căn cứ chấp nhận kháng nghị, cần sửa bản án sơ thẩm về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, sửa một phần bản án sơ thẩm số 02/2025/KDTM-ST ngày 24 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Hưng Yên về án phí.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1: Buộc bà Hoàng Thị Tuyết N và ông Nguyễn Quang L có trách nhiệm thanh toán trả Ngân hàng N1 tổng số tiền tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (24/7/2025) là 3.394.833.227 đồng, trong đó tiền nợ gốc là 1.814.000.000 đồng; nợ lãi là: 1.580.833.227 đồng.

Kể từ ngày 25/7/2025, nếu ông L, bà N không trả được số tiền nợ gốc thì ông L, bà N có trách nhiệm tiếp tục phải chịu lãi suất phát sinh trên dư nợ gốc còn lại theo mức lãi suất nợ quá hạn và nợ phí phát sinh theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng đã ký nêu trên cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng N1.

Trường hợp bà N, ông L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1 thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm còn lại của bà N và ông L để thu hồi nợ theo quy định pháp luật. Nếu vẫn không trả hết toàn bộ nợ gốc, lãi và phí phát sinh liên quan (nếu có) thì Ngân hàng N1 - Chi nhánh H tiếp tục yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà N và ông L để thu hồi nợ.

Về án phí: Vợ chồng bà N phải chịu 99.896.664 đồng (Chín mươi chín triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi tư đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Hoàn trả Ngân hàng N1 số tiền 49.000.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001464 ngày 26/03/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ân Thi.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 08/12/2025./.

* Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • -TAND khu vực 1-Hưng Yên;
  • -Phòng THADS KV1-Hưng Yên;
  • -Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu HC-TP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Tuấn Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/KDTM-PT ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 19/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/12/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger