|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST
Ngày 30-5-2025
V/v Ly hôn và tranh chấp nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Huỳnh Liêm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoà
Ông Nguyễn Văn Hiệp
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nhung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Lộc – Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân thụ lý số: 427/2024/TLST-HN ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thanh L, sinh năm 1975
Địa chỉ: ấp N, xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1973
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ghi ngày 24/6/2024 và trong quá trình tham gia tố tụng bà Trần Thị Thanh L trình bày: Tôi với ông Nguyễn Thanh B quen biết nhau do mai mối và được sự đồng ý của gia đình hai bên tổ chức lễ cưới năm 2010, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã B ngày 30/11/2020. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 thì vợ phát sinh mâu thuẫn do chồng không lo cho gia đình, đam mê cờ bạc, gây nợ nần phải bán tài sản để trả nợ và thường xuyên bỏ nhà để trốn nợ mặc dù đã được cha mẹ khuyên nhưng ông B không từ bỏ. Từ đó, vợ chồng không còn hạnh phúc, tôi bỏ về nhà mẹ ruột sống và đi làm ở Thành phố Hồ Chí Minh nuôi con cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn hàn gắn lại được nên tôi yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Thanh B.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Nguyễn Phương N, sinh ngày 23/11/2012 đang sống chung tôi. Sau khi ly hôn, tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, tài sản riêng: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung, nợ riêng và người khác nợ vợ chồng: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh B: Trong quá trình giải quyết ông B vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày.
Ý kiến cháu Nguyễn Phương N: Cháu có nguyện vọng sau khi cha mẹ ly hôn mong muốn được tiếp tục sống với mẹ là bà Trần Thị Thanh L.
Ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các đương sự nguyên đơn thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự còn bị đơn vắng mặt không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu bà Trần Thị Thanh L về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh B và được quyền tiếp tục trực tiếp nuôi con.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ Hội đồng xét xử nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Căn cứ đơn khởi kiện của bà Trần Thị Thanh L xin ly hôn đối với ông Nguyễn Thanh B có địa chỉ ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Trà Vinh và yêu cầu được nuôi con, xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Nguyên đơn có mặt nhưng bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh L với ông Nguyễn Thanh B tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 193 ngày 30 tháng 11 năm 2010 nên xác định quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.
- Theo lời khai của bà Trần Thị Thanh L cho rằng nguyên nhân vợ chồng không còn hạnh phúc do ông B không lo cho gia đình, đam mê cờ bạc, gây nợ nần phải bán tài sản để trả nợ và thường xuyên bỏ nhà để trốn nợ nên bà L yêu cầu xin ly hôn với ông B. Đối với ông B, Toà án đã mời nhiều lần để giải quyết nhằm động viên, hàn gắn cho vợ chồng đoàn tụ nhưng ông B không đến dự. Qua xác minh, theo lời khai của ông Trần Văn C là cha ruột bà L và Trưởng ban N1 nơi vợ chồng bà L, ông Bình sinh S có ý kiến cho rằng: nguyên nhân vợ chồng bà L, ông B không còn sống chung với nhau là do ông B không lo làm ăn, đam mê cờ bạc, gây nợ nần và thường xuyên bỏ nhà để trốn nợ nên vợ chồng sống ly thân đến nay. Thấy rằng, nguyên nhân vợ chồng bà L, ông B không còn sống chung với nhau là do ông B đam mê cờ bạc, gây nợ nần, không lo cho gia đình dẫn đến bà L và ông B sống ly thân với nhau. Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình thì trong cuộc sống hôn nhân vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau. Nhưng thực tế hiện nay, vợ chồng ông B, bà L không còn liên lạc với nhau, thân ai nấy lo không còn quan tâm với nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nếu tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân nói trên thì mục đích của hôn nhân cũng không đạt được. Từ những cở sở trên, việc yêu cầu xin ly hôn của bà L là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà L được ly hôn với ông B.
- Về con chung: Căn cứ Giấy khai sinh con, xác định vợ chồng bà L, ông B có 01 người con chung tên Nguyễn Phương N, sinh ngày 23/11/2012 hiện đã trên 07 tuổi do bà L nuôi dưỡng có nguyện vọng được tiếp tục sống với bà L, đây cũng là nguyện vọng thực tế, phù hợp điều kiện sinh hoạt, học tập của con Nguyễn Phương N. Do đó, Hội đồng xét xử giao cho bà Trần Thị Thanh L được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Đồng thời, ông B được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được quyền ngăn cản.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử đã phân tích và giải thích về quyền được yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nhằm đảm bảo quyền lợi cho con nhưng bà L chưa yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, vì lợi ích của con, sau khi ly hôn bà L được quyền yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ vợ chồng, bà L khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh và có tranh chấp, các bên được quyền yêu cầu trong vụ kiện khác.
- Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trần Thị Thanh L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Ý kiến của Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 33, Điều 51, Điều 54, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thanh L.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thanh L được ly hôn với ông Nguyễn Thanh B. Giấy chứng nhận kết hôn số 193 ngày 30 tháng 11 năm 2010 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Trà Vinh cấp cho bà Trần Thị Thanh L và ông Nguyễn Thanh B không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
-
Về con chung: Bà Trần Thị Thanh L được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Phương N, sinh ngày 23/11/2012.
Ông Nguyễn Thanh B được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết bà L và ông B có quyền yêu cầu Toà án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc hạn chế quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
- Về cấp dưỡng nuôi con, do bà Trần Thị Thanh L chưa yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Vì lợi ích của con, sau khi ly hôn, bà Trần Thị Thanh L được quyền yêu cầu ông Nguyễn Thanh B cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung và người khác nợ vợ chồng: bà Trần Thị Thanh L khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh và có tranh chấp, các bên được quyền yêu cầu trong vụ kiện khác.
- Về án phí: Bà Trần Thị Thanh L phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004598 ngày 21/10/2024 tại Chi Cục thi hành án Dân sự huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
Án xử công khai vắng mặt bị đơn. Bà Trần Thị Thanh L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án và ông Nguyễn Thanh B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Huỳnh Liêm |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Thanh Loan được ly hôn với ông Nguyễn Thanh Bình.
