Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SỐP CỘP

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày: 23-5-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lò Văn Dưỡng.
  2. Ông Tòng Văn Hưởng.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Quyết – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 12/5/2025, đối với bị cáo:

Lò Văn C, tên gọi khác: Không, sinh ngày 04/6/1989; nơi cư trú: Bản M, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Lò Văn D và con bà: Lường Thị T; có vợ: Tòng Thị M và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh 2022.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 378/2012/HSST ngày 20/11/2012 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại bản M, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên toà.

2

- Nguyên đơn dân sự: UBND huyện S, huyện S, tỉnh Sơn La. Người đại diện: Ông Đào Đình T1 – Chủ tịch UBND huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Cộng đồng bản Mạt, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Người đại diện: Ông Lường Văn K – Trưởng bản M, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên toà.
  • + Ông Lò Văn D, sinh năm 1965. Nơi cư trú: bản M, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có ngôi nhà gỗ cất dựng đã lâu năm, nhiều bộ phận như cột, xà nhà đã hư hỏng nên Lò Văn C nảy sinh ý định vào rừng cắt, xẻ gỗ để sửa chữa nhà.

Vào khoảng cuối tháng 10/2024, C mang theo cưa máy và các dụng cụ khác đi bộ một mình vào khu rừng thuộc bản M, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La. Trước khi đi cắt xẻ gỗ Chiêm không xin phép chủ rừng cũng như cơ quan có thẩm quyền. Khi đến nơi, C dùng cưa máy cưa 06 cây gỗ Vối thuốc (tiếng địa phương gọi là Thồ lộ), có đường kính gốc từ (30 – 50)cm cao khoảng (07 – 10)m, rồi cưa thành 05 cột kích thước (20 x 20 x 57)cm, 01 thanh xà kích thước (18 x 16 x 47)cm và 04 thanh xà có kích thước (17 x 07 x 57)cm. Việc cưa, xẻ, cắt gỗ Chiêm thực hiện trong 02 ngày, sau đó C vẫn để trên rừng. Đến đầu tháng 11/2024 C nhờ Lò Văn P sinh năm 1992, Lò Văn N sinh năm 1990, Lò Văn H sinh năm 1978 và Lường Văn L sinh năm 1993 là những người có quan hệ họ hàng với C đều trú tại bản Mạt, xã M đến kéo hết số gỗ đã cưa xẻ đem về nhà giúp C, phần còn lại như rác gỗ, cành cây vẫn để lại trên rừng. Khi nhờ đi kéo gỗ, C nói với P, N, H và L số gỗ trên đã được Chiêm xin phép cơ quan có thẩm quyền khai thác không phải là gỗ khai thác trái phép, C không trả công mà chỉ làm cơm mời những người đi kéo gỗ giúp mình. Sau khi nhờ người kéo gỗ về nhà xong, C tiếp tục một mình vào khu rừng phòng hộ gần bờ suối thuộc bản Mạt, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La chủ rừng là cộng đồng bản Mạt, xã M để cắt, xẻ gỗ. Tại đây, C dùng cưa máy cưa 05 cây gỗ Thồ lộ, có đường kính gốc từ (30 – 40)cm cao khoảng (07 – 11)m rồi cưa thành 05 thanh xà kích thước (18 x 16 x 47)cm và 04 thanh xà có kích thước (17 x 07 x 57)cm. Việc cưa, xẻ, cắt gỗ C thực hiện trong 02 ngày sau đó C tự kéo gỗ xuống suối rồi đưa về nhà. Ngoài số gỗ khai thác trái phép trên, C còn phát hiện 01 thanh gỗ Thồ lộ ở bờ suối không rõ nguồn gốc nên kéo về nhà để sử dụng. Việc khai thác gỗ trái phép của Lò Văn

3

C bị quần chúng nhân dân phát hiện và có đơn tố giác đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S tiến hành khám nghiệm hiện trường.

Hiện trường thứ nhất: Thuộc khu vực rừng phòng hộ thuộc địa phận bản Mạt, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La do ông Lò Văn D, sinh năm 1965, trú tại bản Mạt, xã M được giao quản lý thuộc lô k, khoảnh 4, Tiểu khu G.

Tại hiện trường phát hiện 01 gốc cây đã bị cắt (nghi là gỗ Thồ lộ vị trí 01) có tọa độ x= 433032, y= 2315566, đường kính gốc 35cm. Đoạn đã bị cắt xẻ có chiều dài 4,68m, đường kính gốc 35cm, đường kính ngọn 26cm, khối lượng 0,342m³ gỗ tròn và 02 đoạn gỗ được cắt bằng cưa máy. Đoạn thứ nhất (ký hiệu 1,1) có chiều dài 4,2m, đường kính gốc 26cm, đường kính ngọn 20cm, khối lượng 0,174m³ gỗ tròn; đoạn thứ hai (ký hiệu 1.2) có chiều dài 0,7m, đường kính gốc 26cm, đường kính ngọn 20cm, khối lượng 0,037m³. Trên nền đất có nhiều mùn cưa và 04 đoạn rác cây đều có chiều dài 4,68m.

Cách vị trí số (1) về hướng Tây Nam 7,1m là gốc cây gỗ đã bị cắt nghi cây Thộ lộ (vị trí số 2), chiều cao từ mặt đất đến lát cắt = 0,6m, có tọa độ x= 433038, y= 2315570, đường kính gốc 30cm. Đoạn đã bị cắt xẻ có chiều dài 4,69m, đường kính gốc 28cm, đường kính ngọn 25cm, khối lượng 0,259m³ gỗ tròn và 03 đoạn gỗ. Đoạn thứ nhất (ký hiệu 2.1) có chiều dài 1,4m, đường kính gốc 30cm, đường kính ngọn 28cm, khối lượng 0,092m³gỗ tròn; đoạn thứ hai (ký hiệu 2.2) có chiều dài 7,5m, đường kính gốc 25cm, đường kính ngọn 18cm, khối lượng 0,272m³gỗ tròn; đoạn thứ ba (ký hiệu 2.3) có chiều dài 0,63m, đường kính gốc 25cm, đường kính ngọn 25cm, khối lượng 0,031m³gỗ tròn. Trên nền đất có nhiều mùn cưa và 04 đoạn rác cây đều có chiều dài 4,69m.

Cách vị trí số (2) về hướng Đông Nam 42,5m là gốc cây gỗ đã bị cắt nghi cây Thộ lộ (vị trí số 3) có tọa độ x= 433013, y= 2315604, đường kính gốc 40cm. Đoạn đã bị cắt xẻ có chiều dài 4,67m, đường kính gốc 30cm, đường kính ngọn 28cm, khối lượng 0,308m³ gỗ tròn và 06 đoạn gỗ. Đoạn thứ nhất (ký hiệu 3.1) có chiều dài 1,51m, đường kính gốc 40cm, đường kính ngọn 30cm, khối lượng 0,145m³gỗ tròn. Đoạn thứ hai (ký hiệu 3.1.1) có chiều dài 7,5m, đường kính gốc 20cm, đường kính ngọn 13cm, khối lượng 0,160m³gỗ tròn. Đoạn thứ ba (ký hiệu 3.2) có chiều dài 01m, đường kính gốc 27cm, đường kính ngọn 23cm, khối lượng 0,049m³gỗ tròn. Đoạn thứ tư (ký hiệu 3.3) có chiều dài 2,6m, đường kính gốc 19cm, đường kính ngọn 17cm, khối lượng 0,066m³gỗ tròn. Đoạn thứ năm (ký hiệu 3.4) có chiều dài 2,6m, đường kính gốc 19cm, đường kính ngọn 17cm,

4

khối lượng 0,066m³gỗ tròn. Đoạn thứ sáu (ký hiệu 3.5) có chiều dài 0,65m, đường kính gốc 28cm, đường kính ngọn 27cm, khối lượng 0,039m³gỗ tròn. Trên nền đất có nhiều mùn cưa và 04 đoạn rác cây đều có chiều dài 4,67m.

Cách vị trí số (3) về hướng Tây Nam 45,8m là gốc cây gỗ đã bị cắt nghi cây Thộ lộ (vị trí số 4), chiều cao từ mặt đất đến lát cắt = 0,7m, có tọa độ x= 433051, y= 2315629, đường kính gốc 32cm. Đoạn đã bị cắt xẻ có chiều dài 4,8m đường kính gốc 32cm, đường kính ngọn 26cm, khối lượng 0,317m³gỗ tròn và 01 đoạn gỗ (ký hiệu 4.1) có chiều dài 10m, đường kính gốc 16cm, đường kính ngọn 13cm, khối lượng 0,298m³gỗ tròn. Trên nền đất có nhiều mùn cưa và 04 đoạn rác cây đều có chiều dài 4,50m.

Cách vị trí số (4) về hướng T 10,9m là gốc cây gỗ đã bị cắt nghi cây Thộ lộ (vị trí số 5) có tọa độ x= 433058, y= 2315622, đường kính gốc 34cm. Đoạn đã bị cắt xẻ có chiều dài 4,7m đường kính gốc 34cm, đường kính ngọn 26cm, khối lượng 0,332m³gỗ tròn và 01 đoạn gỗ (ký hiệu 4.2) có chiều dài 8,5m, đường kính gốc 26cm, đường kính ngọn 20cm, khối lượng 0,353m³gỗ tròn. Trên nền đất có nhiều mùn cưa và 04 đoạn rác cây đều có chiều dài 4,7m.

Tổng số gỗ bị khai thác tại hiện trường thứ nhất là 3,340m³ gỗ tròn. Trong đó khối lượng gỗ khai thác mang đi là 1,558m³ gỗ tròn, khối lượng gỗ còn lại tại hiện trường là 1,782m³ gỗ tròn. Tổ công tác đã giao lại số gỗ còn tại hiện trường cho chủ rừng là ông Lò Văn D quản lý bảo vệ.

Hiện trường thứ hai: Thuộc khu vực rừng phòng hộ thuộc địa phận bản Mạt, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La do cộng đồng bản Mạt, xã M được giao quản lý thuộc lô h, khoảnh 6, Tiểu khu G.

Tại hiện trường phát hiện 01 gốc cây đã bị cắt (nghi là gỗ Thồ lộ vị trí 06) có tọa độ x= 435147, y= 2315978, đường kính gốc 52cm. Đoạn đã bị cắt xẻ mang đi có chiều dài 11,4m, đường kính gốc 52cm, đường kính ngọn 30cm, khối lượng 1,504m³ gỗ tròn và 01 đoạn gỗ được cắt bằng cưa máy (ký hiệu 6.1) có chiều dài 4,9m, đường kính gốc 30cm, đường kính ngọn 20cm, khối lượng 0,240m³ gỗ tròn. Trên nền đất có nhiều mùn cưa và 08 đoạn rác cây đều có chiều dài 5,7m.

Cách vị trí số (6) về hướng Đông Nam 18,3m là gốc cây gỗ đã bị cắt nghi cây Thộ lộ (vị trí số 7), có tọa độ x= 435137, y= 2315594, đường kính gốc 38cm. Đoạn đã bị cắt xẻ có chiều dài 5,7m, đường kính gốc 30cm, đường kính ngọn 28cm, khối lượng 0,376m³ gỗ tròn và 02 đoạn gỗ. Đoạn thứ nhất (ký hiệu 7.1) có chiều dài 1,1m, đường kính gốc 38cm, đường kính ngọn 30cm, khối lượng 0,10m³gỗ tròn. Đoạn thứ hai (ký hiệu 7.2) có chiều dài 5,3m, đường kính gốc 28cm, đường kính ngọn 18cm, khối lượng 0,220m³gỗ tròn. Trên nền đất có nhiều

5

mùn cưa và 04 đoạn rác cây có chiều dài bằng nhau 5,7m.

Cách vị trí số (7) về hướng Tây Nam 23,3m là gốc cây gỗ đã bị cắt nghi cây Thộ lộ (vị trí số 8) có tọa độ x= 435147, y= 2316014, đường kính gốc 35cm. Đoạn đã bị cắt xẻ có chiều dài 4,67m, đường kính gốc 35cm, đường kính ngọn 30cm, khối lượng 0,473m³ gỗ tròn và 03 đoạn gỗ. Đoạn thứ nhất (ký hiệu 8.1) có chiều dài 1,8m, đường kính gốc 30cm, đường kính ngọn 28cm, khối lượng 0,119m³gỗ tròn. Đoạn thứ hai (ký hiệu 8.1.1) có chiều dài 4,4m, đường kính gốc 20cm, đường kính ngọn 14cm, khối lượng 0,10m³gỗ tròn. Đoạn thứ ba (ký hiệu 8.1.2) có chiều dài 4,6m, đường kính gốc 23cm, đường kính ngọn 15cm, khối lượng 0,130m³gỗ tròn. Trên nền đất có nhiều mùn cưa và 04 đoạn rác cây có chiều dài bằng nhau 5,7m.

Cách vị trí số (8) về hướng Đông Nam 6,5m là gốc cây gỗ đã bị cắt nghi cây Thộ lộ (vị trí số 9), có tọa độ x= 435140, y= 2316024, đường kính gốc 34cm. Đoạn đã bị cắt xẻ có chiều dài 4,45m đường kính gốc 34cm, đường kính ngọn 32cm, khối lượng 0,380m³gỗ tròn và 01 đoạn gỗ (ký hiệu 9.1) có chiều dài 02m, đường kính gốc 32cm, đường kính ngọn 15cm, khối lượng 0,087m³gỗ tròn. Trên nền đất có nhiều mùn cưa và 04 đoạn rác cây có chiều dài bằng nhau 4,45m.

Cách vị trí số (9) về hướng Đông Bắc 51m là gốc cây gỗ đã bị cắt nghi cây Thộ lộ (vị trí số 10) có tọa độ x= 435112, y= 2315981, đường kính gốc 35cm. Đoạn đã bị cắt xẻ có chiều dài 5,7m đường kính gốc 35cm, đường kính ngọn 23cm, khối lượng 0,376m³gỗ tròn và 02 đoạn gỗ. Đoạn thứ nhất (ký hiệu 10.1) có chiều dài 9,4m, đường kính gốc 23cm, đường kính ngọn 12cm, khối lượng 0,226m³gỗ tròn. Đoạn thứ hai (ký hiệu 10.2) có chiều dài 7,1m, đường kính gốc 22cm, đường kính ngọn 14cm, khối lượng 0,181m³gỗ tròn Trên nền đất có nhiều mùn cưa và 04 đoạn rác cây có chiều dài bằng nhau 5,7m.

Cách vị trí số (10) về hướng Đông 8,8m là gốc cây gỗ đã bị cắt nghi cây Thộ lộ (vị trí số 11) có tọa độ x= 435103, y= 2315983, đường kính gốc 36cm. Đoạn đã bị cắt xẻ có chiều dài 4,86m đường kính gốc 36cm, đường kính ngọn 30cm, khối lượng 0,415m³gỗ tròn và 01 đoạn gỗ (ký hiệu 11.1) có chiều dài 6,1m, đường kính gốc 30cm, đường kính ngọn 17cm, khối lượng 0,264m³gỗ tròn. Trên nền đất có nhiều mùn cưa và 04 đoạn rác cây có chiều dài bằng nhau 4,80m.

Tổng số gỗ bị khai thác tại hiện trường thứ hai là 5,191m³ gỗ tròn. Trong đó khối lượng gỗ khai thác mang đi là 3,524m³ gỗ tròn, số gỗ còn lại tại hiện trường là 1,667m³ gỗ tròn. Tổ công tác đã giao lại số gỗ còn tại hiện trường cho chủ rừng cộng đồng bản Mạt, xã M quản lý bảo vệ.

Tại bản kết luận giám định tư pháp trong lĩnh vực lâm nghiệp số: 01-

6

2024/KL/GĐCN ngày 18/12/2024 của Giám định viên Hạt Kiểm lâm huyện S, tỉnh Sơn La kết luận:

5.1. Xác định vị trí của 11 cây bị khai thác thuộc tiểu khu, khoảnh, lô; loại rừng và trạng thái rừng:

c) Kết luận giám định:

Kết quả đối chiếu, chồng xếp lớp bản đồ thể hiện vị trí của 11 cây bị khai thác lên nền bản đồ giao đất giao rừng xã M năm 2003; đối chiếu trong Sổ mục kê đất lâm nghiệp, Sổ Địa chính đất lâm nghiệp, biên bản giao đất lâm nghiệp năm 2003 có kết quả:

Vị trí của cây số 01 đến cây số 05 nằm trong lô k, khoảnh 4, tiểu khu G, vị trí của cây số 06 đến cây số 11 nằm trong lô h, khoảnh 6, tiểu khu G.

Loại rừng, chủ rừng: Vị trí của 11 cây bị khai thác thuộc hai khu vực, trong đó: 05 cây bị khai thác được ký hiệu từ cây số 01 đến cây số 05 nằm trong lô k, khoảnh 4, tiểu khu G thuộc loại rừng phòng hộ có nguồn gốc là rừng tự nhiên, chủ rừng: Lò Văn D; 06 cây bị khai thác được ký hiệu từ cây số 06 đến cây số 11 nằm trong lô h, khoảnh 6, tiểu khu G thuộc loại rừng phòng hộ có nguồn gốc là rừng tự nhiên, chủ rừng: Cộng đồng bản Mạt;

Kết quả đối chiếu, chồng xếp lớp bản đồ thể hiện vị trí của 11 cây bị khai thác lên nền bản đồ rà soát đã được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 886/QĐ-UBND ngày 16/5/2024 về việc phê duyệt kết quả rà soát đất lâm nghiệp tỉnh Sơn La theo Quyết định số 326/QĐ-TTg ngày 09/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ có kết quả:

Vị trí của cây số 01 đến cây số 05 nằm trong lô I, khoảnh 4b, tiểu khu G, vị trí của cây số 06 đến cây số 11 nằm trong lô D, khoảnh 6b, tiểu khu G.

Loại rừng, chủ rừng: Vị trí của 11 cây gỗ bị khai thác thuộc hai khu vực, trong đó: 05 cây bị khai thác được ký hiệu từ cây số 01 đến cây số 05 nằm trong lô I, khoảnh 4b, tiểu khu G thuộc loại rừng sản xuất có nguồn gốc là rừng tự nhiên, chủ rừng: Lò Văn D; 06 cây bị khai thác được ký hiệu từ cây số 06 đến cây số 11 nằm trong lô D, khoảnh 6b, tiểu khu G thuộc loại rừng phòng hộ có nguồn gốc là rừng tự nhiên, chủ rừng: Cộng đồng bản Mạt;

5.1.2. Xác định trạng thái rừng của các khu vực có 11 cây bị khai thác

c) Kết luận giám định:

Hiện trạng tại thời điểm giám định: Tại thời điểm giám định khu vực vi phạm có hiện trạng là rừng lá rộng thường xanh và nửa rụng lá là rừng nghèo (Ký hiệu: TXN).

7

Trạng thái rừng và đất lâm nghiệp trong bản đồ rà soát, điều chỉnh quy hoạch 3 loại rừng đã được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 3248/QĐ-UBND ngày 27/12/2018: Rừng hỗn giao gỗ - tre nứa tự nhiên núi đất (Ký hiệu: HG1).

Trạng thái rừng theo dữ liệu bản đồ theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp năm 2023 huyện S: Tại tiểu khu G, khoảnh 6b, lô 4 là rừng hỗn giao gỗ - tre nứa tự nhiên núi đất (Ký hiệu: HG1); Tại Tiểu khu G, khoảnh 4b, lô 9 là rừng nghèo (Ký hiệu: TXN);

Trạng thái rừng theo bản đồ rà soát đã được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 886/QĐ-UBND ngày 16/5/2024 Về việc phê duyệt kết quả rà soát đất lâm nghiệp tỉnh Sơn La theo Quyết định số 326/QĐ-TTg ngày 09/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ: Vị trí 11 cây gỗ bị khai thác có trạng thái rừng là rừng nghèo (Ký hiệu: TXN);

5.2. Xác định chủng loại, nhóm gỗ:

Toàn bộ 16 thanh, hộp gỗ xẻ là vật chứng đang cất giữ tại Công an huyện S (Trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp có khối lượng 3,728 m³ gỗ tròn (quy đổi từ 2,330 m³ gỗ xẻ) của vụ việc đều là cây gỗ Vối Thuốc (Tên địa phương gọi là Thộ L1) tên khoa học Schima superba Gard et C1 là loại gỗ thông thường, gỗ nhóm VI.

Toàn bộ 23 khúc, lóng gỗ tròn là vật chứng phát hiện tại hiện trường khai thác thuộc bản Mạt, xã M, huyện S (Trong tài liệu bên trưng cầu cung cấp có khối lượng 3,449 mét khối (m³) gỗ tròn) của vụ việc đều là cây gỗ Vối Thuốc (Tên địa phương gọi là Thộ L1) tên khoa học Schima superba Gard et C1 là loại gỗ thông thường, gỗ nhóm VI.

Loại gỗ trên được phân nhóm theo Bảng phân loại nhóm gỗ tạm thời theo Quyết định số 2198-CNR ngày 26/11/1977 và Quyết định số 334-CNR ngày 10/5/1988 của Bộ L2”.

Đối với 05 cây gỗ bị khai thác từ cây số 01 đến cây số 05 chủ rừng là ông Lò Văn D theo bản đồ giao đất, giao rừng xã M năm 2003 và các tài liệu khác là loại rừng phòng hộ, có nguồn gốc tự nhiên. Theo bản đồ rà soát đã được UBND tỉnh S phê duyệt tại Quyết định số 886/QĐ-UBND ngày 16/5/2024 về việc phê duyệt kết quả rà soát đất lâm nghiệp tỉnh Sơn La theo Quyết định số 326/QĐ-TTg ngày 09/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ là rừng sản xuất có nguồn gốc tự nhiên. Tuy nhiên, đến nay cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa thực hiện các thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng từ rừng phòng hộ sang rừng sản xuất.

8

Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐG ngày 25/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện S kết luận: 8,51m³ gỗ Vối thuốc (tên địa phương gọi là Thồ lộ) có giá 17.661.193 đồng.

Về bồi thường dân sự: Ủy ban nhân dân huyện S là nguyên đơn dân sự đại diện Nhà nước yêu cầu Lò Văn C bồi thường 17.669.193 đồng. Hiện nay Lò Văn C đã bồi thường xong.

Cáo trạng số: 07/CT-VKSSC ngày 29 tháng 4 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, truy tố Lò Văn C về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, quy định tại điểm d khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

  • - Bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử là không oan sai.
  • - Ý kiến của nguyên đơn dân sự tại các bản khai và đơn xin phép vắng mặt thể hiện: Sự việc xảy ra đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu và nhất trí với nội dung của bản cáo trạng. Nay bị cáo đã bồi thường xong nên không còn đề nghị gì thêm.
  • - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lường Văn K, ông Lò Văn D đều ý kiến: Việc bị cáo phạm tội các ông không biết và không liên quan. Từ khi được giao quản lý, bảo vệ rừng đến nay chưa được đầu tư bỏ vốn và xây dựng gì thêm, nên không có yêu cầu gì.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, sau khi trình bày luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 232, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 Bộ luật hình sự.
    • + Tuyên bố bị cáo: Lò Văn C phạm tội: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.
    • + Đề nghị xử phạt 24 đến 30 tháng Cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
    • + Vật chứng xử lý theo quy định.
    • + Bị cáo không phải chịu án phí hình sự.
    • + Bị cáo và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo.
  • - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì khác tranh luận. Sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

  • - Cơ quan điều tra công an huyện S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  • - Nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên toà, nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Toà tiến hành xét xử vắng mặt.

[2] Về chứng cứ xác định tội danh:

  • - Với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ có đủ căn cứ chứng minh: Vào khoảng cuối tháng 10 đầu tháng 11/2024, Lò Văn C đã sử dụng máy cưa xích đến Tiểu khu G, khoảnh 4 lô k và khoảnh 6 lô h rừng phòng hộ tự nhiên, được giao cho ông Lò Văn D và Cộng đồng bản Mạt, xã M, huyện S quản lý, bảo vệ. Lò Văn C đã chặt hạ, trái phép 11 cây gỗ Vối thuốc (Thồ lộ), tên khoa học Schima superba Gard et C1 rồi cắt xẻ làm cột, xà để sửa nhà. Tổng khối lượng gỗ khai thác là 8,531m³, thuộc loại gỗ thông thường. Gây thiệt hại trị giá 17.661.000 đồng.
  • - Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Từ những phân tích, nhận định nêu trên: Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Lò Văn C đã phạm tội: "Vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự. Như vậy, khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, xâm hại đến trật tự quản lý của Nhà nước, xâm phạm sự phát triển bền vững về tài nguyên - môi trường rừng, gây hiểm họa khôn lường đến môi trường sinh thái. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do

10

đó cần có mức hình phạt tương xứng, đúng mức, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về nhân thân: Năm 2012, bị cáo có 01 tiền án. Tuy nhiên, đã chấp hành song hình phạt chính và các quyết định khác của bản án nên đã được xoá án tích.
  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại - (nộp toàn bộ số tiền bồi thường 17.661.193 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp); người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông, bà nội (ông Lò Văn Â, bà Lò Thị H1) là người có công với cách mạng - được Nhà nước tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được pháp luật quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho bị cáo được hưởng.

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng; sau khi tội phạm xảy ra đã tỏ rõ sự ăn năn, hối cải; hợp tác và chấp hành tốt các văn bản tố tụng trước khi xét xử. Do vậy, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương, dưới sự giám sát - giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[5] Về vấn đề khác liên quan trong vụ án:

  • - Đối với Lò Văn P, Lò Văn N, Lò Văn H và Lường Văn L là những người được bị cáo nhờ vận chuyển gỗ từ địa điểm khai thác về nhà. Tuy nhiên, không được hưởng lợi và không biết việc C khai thác gỗ trái phép nên không có căn cứ xử lý trong vụ án, là có căn cứ.
  • - Đối với ông Lò Văn D, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00042/QSDĐ/608/H-QĐUB/2002 ngày 15/10/2002 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện S cấp và Cộng đồng bản Mạt, xã M được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 000268/QSDĐ/608/H-QĐUB/2002 ngày 15/10/2002 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện S cấp là chủ rừng được giao quản lý, bảo vệ rừng. Việc bị cáo khai thác gỗ ông D và cộng đồng bản Mạt không biết nên không có căn cứ xử lý, cần chấp nhận.
  • - Đối với số lượng gỗ tròn, gỗ rác và các cành cây bị cắt tỉa còn lại tại hiện trường cách xa khu dân cư, khó vận chuyển, cơ quan Điều tra đã bàn giao lại cho

11

các chủ rừng quản lý, bảo về và cam kết không được thực hiện hành vi khai thác trái phép là có căn cứ, cần chấp nhận.

[6] Về bồi thường dân sự: Chấp nhận việc bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả toàn bộ cho Nhà nước là 17.661.193 đồng.

[7] Vật chứng của vụ án còn lại: 16 thanh gỗ xẻ, có khối lượng 2,33m³ và 01 máy cưa xích là vật liên quan đến phạm tội, cần tịch thu phát mại, sung ngân sách Nhà nước; 01 thước rút, cuộn và các đồ vật liên quan là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, gia đình hoàn cảnh khó khăn, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền).

[9] Về khấu trừ thu nhập: Bị cáo không việc làm ổn định, nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

[10] Về án phí: Bị cáo thuộc trường hợp được miễn, nên không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[11] Về quan điểm của Kiểm sát viên: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 232, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản.

Xử phạt: Lò Văn C 26 (hai mươi sáu) tháng Cải tạo không giam giữ.

Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh S và Công an xã M nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo cho UBND xã M, huyện S, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã M trong việc giám sát, giáo dục.

Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

12

  • - Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 16 (mười sáu) thanh gỗ xẻ, có khối lượng 2,33m³, có đánh số thứ tự từ C1 đến C16 và 01 (một) máy cưa xích chạy bằng xăng nhãn hiệu Thakita.
  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) thước rút, cuộn bỏ bằng nhựa màu vàng; 01 (một) đoạn kim loại có tổng chiều dài 27 cm dạng hình chữ U; 01 (một) đoạn dây có lõi bằng kim loại, vỏ bằng nhựa màu đen, không rõ nhãn hiệu dài 3,14cm; 01 (một) hộp nhựa màu xanh có nắp màu đen, không rõ nhãn hiệu.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 07 ngày 29/4/2025 của Viện kiểm sát huyện S và biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/5/2025 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an sự huyện S, tỉnh Sơn La).

- Ghi nhận việc cơ quan Điều tra bàn giao lại đối với số lượng gỗ tròn, gỗ rác và các cành cây bị cắt tỉa còn lại tại hiện trường cho ông Lò Văn D và Ban quản lý bản Mạt, xã M quản lý, bảo vệ chờ xử lý.

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585 Bộ luật dân sự.

Ghi nhận việc bị cáo Lò Văn C tự nguyện bồi thường thiệt hại cho Nhà nước số tiền 17.661.193 đồng (mười bảy triệu, sáu trăm sáu mươi mốt nghìn, một trăm chín mươi ba đồng), tại biên lại thu tiền số 0002305 ngày 05/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 23/5/2025; nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Sốp Cộp;
  • - THA hình sự;
  • - CCTHA Dân sự huyện Sốp Cộp;
  • - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lường Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn C pham tội Vi pham quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger