TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HNGĐ-PT Ngày: 27/02/2025 V/v “Ly hôn, chia tài sản chung, nợ chung ”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
Tnh phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạt
Các Thẩm phán:
Ông Lê Văn Phận
Bà Nguyễn Thị Rẻn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Mai - Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 51/2024/TLPT-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn, chia tài sản chung, nợ chung”.
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 139/2024/HN-ST ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 301/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1978;
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn T, sinh năm 1976;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Địa chỉ: Số 273 khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích H - Luật sư Văn phòng Luật sư Võ Tấn T thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ: Số 273 khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Trần Minh T1, sinh năm 1996. Địa chỉ thường trú: Phường P, thị xã K, tỉnh Gia Lai; địa chỉ liên hệ: Số 372 Lê Văn S, phường A, quận B, Tnh phố Hồ Chí Minh.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T - Công ty Luật TNHH Danh T thuộc Đoàn Luật sư Tnh phố Hồ Chí Minh.
- Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
- Bà Huỳnh Ngọc Đ, sinh năm 1974
- Ông Nguyễn Hoàng C, sinh năm 1971;
- Ông Khấu Văn D, sinh năm 1971;
- Ông Võ Văn N, sinh năm 1955;
- Ông Nguyễn Việt H, sinh năm 1954;
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1955;
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1959;
- Ông Cao Lam P, sinh năm 1979;
- Bà Triệu Thị Hồng T, sinh năm 1985;
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Châu T - Phó Giám đốc Phòng giao dịch N thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre. Địa chỉ: Số 132A đường L, khu phố D, thị trấn Mỏ C, huyện N, tỉnh Bến Tre.
Cùng địa chỉ: Khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ: Ấp Q, xã H, huyện N, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ: Ấp A, H, huyện N, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn Mỏ C, huyện N, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ: Ấp N, xã H, huyện N, tỉnh Bến Tre.
Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre.
Cùng địa chỉ: Khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông T, bà N: Ông Hồ Văn V, sinh năm 1961. Địa chỉ: Ấp M, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.
* Người kháng cáo: Chị Nguyễn Thị X là nguyên đơn; anh Huỳnh Văn T là bị đơn; ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
(Chị X, Luật sư H, anh T, anh T1, Luật sư T, ông T, ông V có mặt; bà Đ, ông C, ông D, ông N, ông H, ông P, bà T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm:
* Theo Đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 10/12/2021; Đơn khởi kiện bổ sung ngày 04/5/2022; Đơn xin rút 01 phần yêu cầu khởi kiện ngày 01/8/2022; Đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 10/7/2023; Lời trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa của nguyên đơn chị Nguyễn Thị X có nội dung:
- Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh Huỳnh Văn T. Lý do: Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H vào ngày 05/01/1993. Quá trình sống chung lúc đầu có hạnh phúc nhưng đến năm 2015 phát sinh mâu thuẫn vợ chồng thường xuyên cãi vả, anh T sử dụng bạo lực với chị, cuộc sống không hạnh
phúc, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không còn tình cảm nên quyết định ly hôn.
- Về con chung: Huỳnh Thị Kim P, sinh ngày 20/02/1999 và Huỳnh Thị Thu T, sinh ngày 25/01/2003, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án xem xét.
- Yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng và nợ chung của vợ chồng khi ly hôn, cụ thể:
- - Thửa số 25, tờ bản đồ số 43, diện tích 2.226,1m² (đo thực tế 2.244,5m²), tọa lạc khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre.
- - Thửa số 37, tờ bản đồ số 43, diện tích 2.266,5m², tọa lạc khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre.
- - Thửa số 33, tờ bản đồ số 42, diện tích 110,6m², tọa lạc khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre, trên đất có căn nhà cấp 3 - nhà lầu.
Nguồn gốc 03 thửa đất là do cha mẹ của anh T cho vợ chồng. Chị xác định đây là tài sản chung của vợ chồng, yêu cầu chia đôi, chị nhận 1/2 giá trị 03 thửa đất này và tài sản trên đất. Tài sản có trong nhà hiện anh T đang quản lý, chị không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với việc anh T yêu cầu chia 02 thửa đất: Thửa 153, tờ bản đồ số 42, tọa lạc khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre, diện tích 135,8m² (trên đất có căn nhà xây tường, cột bê tông cốt thép, nền ceramic, mái tol tráng kẽm) và thửa 477, tờ bản đồ số 6, tọa lạc ấp V, xã H, tỉnh Bến Tre, diện tích 1.072,8m², chị không đồng ý vì 02 thửa đất này và căn nhà trên đất là của cha mẹ chị là ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị N, không phải tài sản chung của vợ chồng. Chị đồng ý trả lại cho cha mẹ của chị.
Chị hoàn toàn không đứng tên tài khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre – Phòng giao dịch N với số tiền 1.250.000.000 đồng như anh T trình bày nên không chấp nhận yêu cầu chia tài sản của anh T. Số tiền mà anh T trình bày là tiền giải ngân của Ngân hàng cho vợ chồng chị vay (hiện còn nợ, Ngân hàng đang yêu cầu trả).
- Phần các chiếc xe:
- + Xe SH Mode, BKS: 71B2-504.37: Chị xác định đây là tài sản chung của vợ chồng, yêu cầu chia đôi, yêu cầu anh T giao cho chị, chị hoàn lại cho anh T 1/2 giá trị với số tiền 15.000.000 đồng.
- + Đối với xe Siriut màu đỏ - đen, BKS: 71D1-321.59 ; Xe Siriut màu trắng; Xe DH: Rút yêu cầu, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về tiền bán heo là 120.000.000 đồng và tiền bán thức ăn chăn nuôi, tiền bán gạo được 20.000.000 đồng, tổng cộng 140.000.000 đồng: Chị xác định đây là tài sản chung của vợ chồng, yêu cầu chia đôi, yêu cầu anh T chia cho chị 1/2 giá trị là 70.000.000 đồng. Số tiền này anh T có thừa nhận trong Biên bản đối chất ngày 04/5/2022.
- Về các khoản người khác nợ: Ông Khấu Văn D nợ là 300.000.000 đồng (đã trả cho chị nhận 60.000.0000 đồng, trả cho anh T nhận 10.000.000 đồng);
Bà Huỳnh Ngọc Đ và ông Nguyễn Hoàng C nợ là 150.000.000 đồng (đã trả cho anh T nhận); ông Võ Văn N nợ là 31.195.000 đồng (đã trả cho anh T nhận 10.000.000 đồng); ông Nguyễn Việt H nợ là 12.000.000 đồng (đã trả cho chị nhận). Tổng cộng: 493.195.000 đồng, chị xác định đây là tài sản chung của vợ chồng, chị yêu cầu chia đôi, chị và anh T mỗi người được: 246.597.500 đồng. Hiện nay, ông D còn nợ lại số tiền 230.000.000 đồng do chị nhận (ông D cũng đồng ý); đối với số tiền ông N còn nợ là 21.195.000 đồng do anh T nhận (ông N cũng đồng ý). Như vậy, chị hoàn lại cho anh T số tiền chênh lệch là 55.402.500 đồng.
- Nợ Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre đến thời điểm ngày 09/9/2024 như Ngân hàng yêu cầu là 1.381.295.142 đồng, chị xác định đây là nợ chung của vợ chồng, chị đồng ý chia đôi mỗi người trả cho Ngân hàng 1/2. Tuy nhiên, chị không có tiền để trả nên đề nghị Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất số 33 và 25 để trả. Sau khi phát mãi xong, nếu còn dư tiền thì yêu cầu anh T chia cho chị 1/2 giá trị như chị yêu cầu ở trên.
Ngoài ra, chị không còn yêu cầu nào khác.
* Trong Đơn phản tố ngày 10/02/2022; Đơn phản tố bổ sung ngày 01/8/2022; Đơn phản tố bổ sung ngày 14/02/2023; Đơn phản tố bổ sung ngày 22/6/2023; Lời trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa của bị đơn anh Huỳnh Văn T, người đại diện theo ủy quyền (phần tài sản) là anh Đinh Văn N có nội dung:
- Về hôn nhân: Anh T đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị X.
- Về con chung: Huỳnh Thị Kim Phúc, sinh ngày 20/02/1999 và Huỳnh Thị Thu Thảo, sinh ngày 25/01/2003 đã trưởng Tnh, không yêu cầu Tòa án xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng:
- - Thửa số 25, tờ bản đồ số 43, diện tích 2.244,5m²; thửa số 37, tờ bản đồ số 43, diện tích 2.266,4m² và thửa số 33, tờ bản đồ số 42, diện tích 110,6m², cùng tọa lạc khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre (cùng tài sản trên đất): Anh T xác định đây là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, do 03 thửa đất có nguồn gốc của cha mẹ anh T cho nên anh T yêu cầu nhận 07 phần bằng hiện vật, đồng ý giao lại cho chị X 03 phần giá trị.
- - Thửa số 153, tờ bản đồ số 42, diện tích 135,8m², tọa lạc khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre, trên đất có căn nhà: Anh T xác định đây là tài sản do vợ chồng anh T và chị X mua của vợ chồng chị Thúy và anh Phương (có "Giấy thỏa thuận bán đất”, ghi ngày 15/11/2016) nên đề nghị chia đôi, anh T nhận 1/2 giá trị do chị X giao.
- - Thửa số 477, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.072,8m², tọa lạc ấp V, xã H, huyện N, tỉnh Bến Tre: Anh T xác định cũng do vợ chồng anh T và chị X mua nên đề nghị chia đôi, anh T nhận 1/2 giá trị do chị X giao.
- - Số tiền 1.250.000.000 đồng, khi làm đơn khởi kiện anh T cho rằng chị X đứng tên tài khoản tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre - Phòng giao dịch N nhưng thực tế là số tiền vay do Ngân hàng giải ngân chị X nhận và quản lý luôn. Đây là tài sản chung của vợ chồng, anh T yêu cầu nhận 1/2, buộc chị X giao lại là 625.000.000 đồng.
- - Xe SH Mode, BKS: 71B2-504.37: Anh T đã bán được 30.000.000 đồng, đồng ý chia cho chị X 1/2 giá trị là 15.000.000 đồng.
- - Về đồ đạc trong nhà tại thửa 153: Anh đã bán được 30.000.000 đồng, đồng ý chia cho chị X 15.000.000 đồng. Tuy nhiên, chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về tiền người ta nợ: Anh T đồng ý như chị X yêu cầu.
- - Đối với nợ Ngân hàng: Anh T đồng ý như chị X yêu cầu. Nếu không trả được thì Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp là thửa đất 33 và 25 để thu hồi nợ. Sau khi trả nợ cho Ngân hàng xong, nếu còn tiền thì anh T chia cho chị X 03 phần như anh T trình bày trên.
Ngoài ra, anh T không còn yêu cầu nào khác.
* Trong Đơn yêu cầu độc lập ngày 07/12/2022; Đơn yêu cầu độc lập bổ sung ngày 22/3/2023; Đơn yêu cầu độc lập ngày 03/7/2023; Đơn yêu cầu độc lập sửa đổi, bổ sung ngày 01/11/2023 của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị N; Lời trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa của người đại diện theo uỷ quyền là ông Hồ Văn V có nội dung:
- Bà N và ông T yêu cầu như sau: Buộc anh T phải giao trả cho ông, bà 02 thửa đất và nhà trên đất, cụ thể:
- - Thửa 153, tờ bản đồ số 42, tọa lạc khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre, diện tích 135,8m² (trên đất có căn nhà xây tường) do ông T đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được Sở T nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre cấp Ny 14/3/2022. Trước đó, khi mua đất, thửa đất này do bà N và chị X đứng tên, do chị X là con duy nhất. Ông T và bà N mua đất của ông Đoàn Công Phích, quản lý, cất nhà ở, có ông Nguyễn Văn Đời xác nhận.
- - Thửa 477, tờ bản đồ số 6, tọa lạc ấp V, xã H, huyện N, tỉnh Bến Tre, diện tích 1.072,8m². Thửa đất này do ông T, bà N mua của ông Nguyễn Văn T nhưng để cho chị X đứng tên.
- - Yêu cầu chị X phải chuyển trả quyền sử dụng đất thuộc thửa 477, tờ bản đồ số 6, tọa lạc ấp V, xã H, huyện N, tỉnh Bến Tre, diện tích 1.072,8m² sang cho ông T và bà N.
* Trong Đơn yêu cầu độc lập ngày 10/02/2022 của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam; Lời trình bày tại phiên tòa của người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Châu T có nội dung:
Yêu cầu chị X và anh T liên đới trả số tiền vay tính đến hết ngày 09/9/2024 là 1.381.295.142 đồng, trong đó: nợ gốc là 1.296.700.000 đồng, nợ lãi là 84.595.142 đồng, đồng thời tính phần lãi phát sinh từ ngày 10/9/2024 cho đến thanh toán tất nợ vay.
Trường hợp chị X và anh T không trả được nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của bên vay, gồm:
- + Thửa số 33, tờ bản đồ số 42, diện tích 110,6m², đất ở tại đô thị và tài sản khác gắn liền với đất, tọa lạc khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 590436, số vào sổ H 03063 do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 20/12/2008 cho chị X và anh T.
- + Thửa số 25, tờ bản đồ số 43, diện tích 2.226,1m², đất cây lâu năm và tài sản khác gắn liền với đất, tọa lạc khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 528826, số vào sổ H 00203, do Ủy ban nhân dân huyện cấp ngày 06/6/2005 cho chị X và anh T.
* Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Huỳnh Ngọc Đ trình bày:
Bà cùng chồng là ông Nguyễn Hoàng C có thiếu tiền mua thức ăn chăn nuôi của anh T và chị X là 150.000.000 đồng nhưng đã trả cho anh T xong, không còn nợ.
* Trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Khấu Văn D trình bày:
Ông có mua thức ăn chăn nuôi của anh T và chị X, còn thiếu lại 290.000.000 đồng, đồng ý để chị X thu khoản nợ này.
* Trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Võ Văn N trình bày:
Ông có mua thức ăn chăn nuôi của anh T và chị X, đã trả được 10.000.000 đồng, còn thiếu lại 21.195.000 đồng, xin trả dần 5.000.000 đồng/năm.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Việt H vắng mặt, không có lời trình bày.
* Trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Triệu Thị Hồng T trình bày:
Thửa 153, tờ bản đồ số 42 trước đây do chị X mua, chị X nói là mua cho cha mẹ ruột của chị X. Thửa đất này do ông bà nội chồng của bà cho bà và chồng là anh Cao Lam P nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Sau đó, vợ chồng bà bán cho chị X với giá là 780.000.000 đồng, vợ chồng bà có nhận tiền của vợ chồng chị X, anh T giao. Còn về thủ tục sang tên do gia đình bên chồng của bà thực hiện. Hiện nay, vợ chồng bà không có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến thửa đất này.
Do hòa giải không thành nên Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bến Tre đã đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 139/2024/HN-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bến Tre đã quyết định:
- - Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị X.
- - Chấp nhận 01 phần yêu cầu chia T sản chung của anh Huỳnh Văn T.
- - Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị N.
- - Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Cụ thể tuyên:
- Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị X và anh Huỳnh Văn T.
- Về con chung: Huỳnh Thị Kim Phúc, sinh ngày 20/02/1999 và Huỳnh Thị Thu Thảo, sinh ngày 25/01/2003, đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án xem xét, không giải quyết.
- Buộc chị Nguyễn Thị X và anh Huỳnh Văn T có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (Chi nhánh Bến Tre - Phòng giao dịch N) số tiền của Hợp đồng tín 01/2021/5501584/HĐTD ngày 11/01/2021, gồm nợ gốc là 1.296.700.000 đồng, nợ lãi tính đến ngày 09/9/2024 là 84.595.142 đồng, tổng cộng 1.381.295.142 đồng. Trong đó, trách nhiệm liên đới theo phần, chị Nguyễn Thị X và anh Huỳnh Văn T mỗi người có trách nhiệm trả số nợ gốc và lãi tính đến ngày 09/9/2024 là 690.647.571 đồng.
Đồng thời, chị Nguyễn Thị X và anh Huỳnh Văn T vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo số nợ còn lại theo hợp đồng tín dụng đã ký từ ngày tiếp theo của ngày 09/9/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Trường hợp chị Nguyễn Thị X và anh Huỳnh Văn T không trả được nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (Chi nhánh
Bến Tre - Phòng giao dịch N) được quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của bên vay, gồm:
- + Thửa số 33, tờ bản đồ số 42, diện tích 110,6m², đất ở tại đô thị và tài sản khác gắn liền với đất, tọa khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A0 590436, số vào sổ H 03063, do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 20/12/2008 cho chị Nguyễn Thị X và anh Huỳnh Văn T.
- + Thửa số 25, tờ bản đồ số 43, diện tích 2.226,1m² (đo đạc thực tế 2.244,5m²), đất cây lâu năm và tài sản khác gắn liền với đất, tọa lạc khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 528826, số vào sổ H 00203, do Ủy ban nhân dân huyện N cấp ngày 06/6/2005 cho chị Nguyễn Thị X và anh Huỳnh Văn T.
- Về chia tài sản chung của vợ chồng:
* Anh Huỳnh Văn T được nhận:
- - Thửa đất số 25, tờ bản đồ số 43, diện tích 2.244,5m², tọa lạc khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre. Cùng tài sản trên đất gồm:
- + Chuồng trại 1: Trụ cột bê tông cốt thép, tường xây lửng 0,8m, nền xi măng, mái tole tráng kẽm, tổng diện tích 315,2m².
- + Chuồng trại 2: Trụ bê tông cốt thép, tường xây lửng 0,8m, nền xi măng, mái lá, tổng diện tích 97,68m².
- + Tường rào: Trụ đá bê tông cốt thép, tường xây, tổng diện tích 175m².
- + Cây trồng: Cóc loại 3: 01 cây; Cóc loại 1: 01 cây; Khế loại 1: 02 cây; Chùm ruột loại 1: 02 cây; Chanh loại 1: 02 cây; Chanh loại 3: 07 cây; Đu đủ có trái: 01 cây; Chuối: 07 bụi; Chuối mới trồng: 02 bụi; Xoài loại 3: 02 cây; Dừa loại 1: 30 cây; Dừa loại 2: 11 cây; Dừa loại 3: 22 cây.
- - Thửa đất số 37, tờ bản đồ số 43, diện tích 2.266,5m², tọa lạc khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre. Trên đất có cây trồng gồm: Dừa loại 1: 41 cây; Dừa loại 3: 03 cây; Dừa mới trồng: 42 cây; Chuối: 32 bụi; Chuối mới trồng: 10 bụi.
- - Thửa đất số 33, tờ bản đồ số 43, diện tích 110,6m², tọa lạc khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre, cùng tài sản trên đất gồm:
- + Nhà chính: Nhà 02 tầng, móng cột dầm, sàn bê tông cốt thép, tường bao che, xây gạch dày 10cm, hoàn thiện sơn nước, trần thạch cao, nền ceramic bóng kiến, mái tol xi măng, diện tích 102m².
- + Nhà 01 tầng (phía trước nhà chính): móng cột dầm, bê tông cốt thép, tường bao che xây gạch dày 10cm, hoàn thiện sơn nước, diện tích 41,48m².
- + Gạch men ốp tường, tổng diện tích 448m².
- * Buộc anh Huỳnh Văn T hoàn lại cho chị Nguyễn Thị X số tiền chị Nguyễn Thị X được chia T sản chung của 03 thửa đất trên và tài sản trên đất là (làm tròn): 3.790.707.900₫ (Ba tỉ bảy trăm chín mươi triệu bảy trăm lẻ bảy nghìn chín trăm đồng).
- * Buộc anh Huỳnh Văn T giao lại cho chị Nguyễn Thị X giá trị 1/2 xe SH Mode, BKS: 71B2-504.37: 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng).
- * Đình chỉ đối với yêu cầu của chị Nguyễn Thị X đối với yêu cầu: Chia 01 xe môtô SIRIUS, BKS 71B3-340.80; 01 xe môtô SIRIUS BKS 71B1-312.59 và xe mô tô DH, BKS 71F7-7477 do rút yêu cầu.
- * Buộc anh Huỳnh Văn T giao cho chị Nguyễn Thị X số tiền bán heo và tiền bán thức ăn chăn nuôi, bán gạo là 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng).
- * Buộc chị Nguyễn Thị X giao cho anh Huỳnh Văn T số tiền nhận giá trị thửa đất số 477, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.072,8m², tọa lạc ấp V1, xã H, huyện N, tỉnh Bến Tre là 940.159.000₫ (Chín trăm bốn mươi triệu một trăm năm mươi chín nghìn đồng).
- * Buộc chị Nguyễn Thị X giao cho anh Huỳnh Văn T số tiền nhận giá trị số thửa đất số 153, tờ bản đồ số 42, diện tích 135,8m², tọa lạc khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre là 509.250.000đ (Năm trăm lẻ chín triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
- * Về tiền người khác nợ:
- - Buộc ông Khấu Văn D có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị X số tiền 230.000.000₫ (Hai trăm ba mươi triệu đồng).
- - Buộc ông Võ Văn N có nghĩa vụ trả cho anh Huỳnh Văn T số tiền 21.195.000₫ (Hai mươi mốt triệu một trăm chín mươi lăm đồng).
- - Buộc chị Nguyễn Thị X phải hoàn lại cho anh Huỳnh Văn T số tiền chênh lệch là 55.402.500đ (Năm mươi lăm triệu bốn trăm lẻ hai nghìn năm trăm đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Chị Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị N không tranh chấp với ông Nguyễn Văn T thửa đất số 153, tờ bản đồ số 42, diện tích 135,8m², tọa lạc khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre, không xem xét.
- Ghi nhận chị Nguyễn Thị X đồng ý thực hiện thủ tục chuyển sử dụng đất thửa đất số 477, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.072,8m², tọa lạc ấp V, xã H, huyện N, tỉnh Bến Tre cho ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị N.
- Buộc anh Huỳnh Văn T giao trả đất và tài sản trên đất gồm: Thửa đất số 153, tờ bản đồ số 42, diện tích 135,8m², tọa lạc khu phố A, thị trấn C, huyện N, tỉnh Bến Tre cho ông Nguyễn Văn T. Trên đất có tài sản của ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị N gồm:
- + Nhà chính: Nhà 01 tầng, móng cột dầm bê tông cốt thép, tường bao che, ngăn phòng, xây gạch dày 10cm, hoàn thiện sơn nước, trần thạch cao, nền ceramic, mái tole tráng kẽm, diện tích 82,5m².
- + Nhà trước: Móng cột dầm bê tông cốt thépp, tường bao che, xây gạch dày 10cm, hoàn thiện sơn nước, trần thạch cao, nền ceramic, mái tole tráng kẽm, diện tích 41,4m².
- + Gạch men ốp tường, tổng diện tích 131,6m².
- Buộc anh Huỳnh Văn T giao trả đất và tài sản trên đất gồm: Thửa đất số 477, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.072,8m², tọa lạc ấp V, xã H, huyện N, tỉnh Bến Tre cho ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị N. Trên đất có tài sản của ông Nguyễn Văn T gồm:
- + Hàng rào, trụ đà bê tông cốt thép, tường xây lửng 0,4m, trên lắp lưới B40, diện tích 94,5m²; Hàng rào trụ đá kéo lưới B40, diện tích 64,5m².
- + Cây trồng: Chuối 100 bụi; Chuối mới trồng 22 bụi; Cóc loại 3: 12 cây; Đu đủ có trái 07 cây; Ổi loại 02: 01 cây; Tràm loại 3: 02 cây.
- Quá trình thi hành án, các đương sự được quyết định giao tài sản là quyền sử dụng đất như trên có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các thủ tục điều chỉnh, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật đất đai.
(Phần đất nêu trên được thể hiện trong Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất và Trích lục bản đồ thửa đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N thực hiện kèm theo – là một phần của bản án, không tách rời bản án). Các đương sự không còn yêu cầu nào khác, không xem xét.
- Về chi phí tố tụng khác:
Chị Nguyễn Thị X và anh Huỳnh Văn T đã nộp: 12.384.000₫ (Mười hai triệu ba trăm tám mươi bốn nghìn đồng); trong đó mỗi bên chịu 1/2 (đã nộp xong).
- Về án phí dân sự:
11.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
- * Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (đối với việc thỏa thuận thuận tình ly hôn trước khi mở phiên tòa): 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng), chị Nguyễn Thị X và anh Huỳnh Văn T mỗi người chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng).
- * Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch (đối với nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng): 53.438.854 đồng, chị Nguyễn Thị X và anh Huỳnh Văn T liên đới chịu. Trong đó: Án phí đối với trách nhiệm liên đới theo phần, chị Nguyễn Thị X và anh Huỳnh Văn T mỗi người nộp (làm tròn): 26.719.000 đồng (Hai mươi sáu triệu bảy trăm mười chín nghìn đồng).
- * Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch (đối với việc chia T sản chung; T sản chung được chia sau khi đã trừ đi số nợ Ngân hàng):
- - Chị Nguyễn Thị X nộp (làm tròn): 113.351.000đ (Một trăm mười ba triệu ba trăm năm mươi mốt nghìn đồng).
- - Anh Huỳnh Văn T nộp (làm tròn): 114.625.000đ (Một trăm mười bốn triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
- * Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (đối với nghĩa vụ trả đất cho ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị N): 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), anh Huỳnh Văn T chịu.
- * Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch (đối với nghĩa vụ trả tiền nợ cho chị Huỳnh Thị X): 11.500.000₫ (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng), ông Khấu Văn D chịu.
- * Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch (đối với nghĩa vụ trả tiền nợ cho anh Huỳnh Văn T): 1.059.700đ (Một triệu không trăm năm mươi chín nghìn bảy trăm đồng), ông Võ Văn N chịu, tuy nhiên ông N được miễn do ông là người cao tuổi.
Chị Nguyễn Thị X được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001690 ngày 17/01/2022; 56.083.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007939 ngày 28/6/2022; 405.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006794 ngày 11/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Bến Tre. Chị Nguyễn Thị X phải nộp thêm 83.357.000₫ (Tám mươi ba triệu ba trăm năm mươi bảy nghìn đồng).
Anh Huỳnh Văn T được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 19.976.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007899 ngày 17/6/2022; 18.375.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008013 ngày 02/8/2022; 20.394.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm số ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006806 ngày 14/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Bến Tre. Anh Huỳnh Văn T phải nộp thêm 82.974.000đ (Tám mươi hai triệu chín trăm bảy mươi bốn nghìn đồng).
Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (Chi nhánh Bến Tre - Phòng giao dịch N nhận) số tiền tạm ứng án phí 25.562.000₫ (Hai mươi lăm triệu năm trăm sáu mươi hai nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007904 ngày 20/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Bến Tre.
12.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Hoàn trả cho chị Nguyễn Thị X số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm số ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003692 ngày 23/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Bến Tre.
Hoàn trả cho anh Huỳnh Văn T số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm số ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003693 ngày 24/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Bến Tre.
Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí.
Trong trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Lê Minh Đạt |
Bản án số 19/2025/HNGĐ-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về ly hôn, chia tài sản chung, nợ chung
- Số bản án: 19/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, chia tài sản chung, nợ chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Hủy một phần Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 139/2024/HN-ST Ny 10/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bến Tre đối với yêu cầu của anh Huỳnh Văn T về việc buộc chị Nguyễn Thị X chia số tiền 1.250.000.000 đồng. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bến Tre giải quyết lại phần bị hủy theo thủ tục chung.
