TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HS-PT Ngày: 14/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Huỳnh Đắc Đương
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Duy Quyền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 04 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai thụ lý số: 24/2025/HSPT, ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Huỳnh Ngọc L, do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HSST ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
- Bị cáo có kháng cáo: Huỳnh Ngọc L, sinh ngày 15 tháng 12 năm 1956, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: số B, ấp P, xã L, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; con ông Khưu H (đã chết) và bà Huỳnh Thị L1, sinh năm 1927; Chồng: Nguyễn Văn K, sinh năm 1958; con có 03 người, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1988; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Ngọc L: Luật sư Nguyễn Vĩnh B – Trung tâm tư vấn pháp luật tỉnh T.
Ngoài ra trong vụ án còn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan do không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập ra phiên tòa phúc thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết, bị cáo Huỳnh Ngọc L có cho bà Nguyễn Thị Mỹ H1 (sinh ngày 02/12/1970, nơi thường trú: Số E, khóm D, phường C, thành phố T, tỉnh Trà Vinh) và bà Đặng Thị Hồng T (sinh ngày 02/10/1976, nơi thường trú: số A, khóm A, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh) vay tiền nhiều lần để lấy lãi, với mức lãi suất vay từ 73%/năm đến 255,5%/năm, hình thức đóng lãi theo ngày, đóng trực tiếp cho bị cáo L, có khi bà H1 gửi tiền lãi nhờ bà Khưu Thị B1 (sinh ngày 01/01/1963, nơi thường trú: số B, Khóm B, Phường C, thành phố T, tỉnh Trà Vinh) đưa cho bị cáo L. Cụ thể từng khoản vay như sau:
1- Đối với bà Nguyễn Thị Mỹ H1
- Lần thứ nhất (giấy mượn tiền ngày 04/6/2023 và biên nhận ngày 10/6/2023): Vào ngày 04/6/2023 và ngày 10/6/2023 bị cáo L cho bà H1 vay tiền hai lần, mỗi lần 50.000.000 đồng. Tổng cộng là 100.000.000 đồng và đóng lãi 700.000 đồng/ngày (tương ứng 255,5%/năm). Bà H1 đóng lãi cho bị cáo L được 10 ngày là 7.000.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 100.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 10 ngày = 547.945 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 7.000.000 đồng - 547.945 đồng = 6.452.055 đồng (sáu triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn không trăm năm mươi lăm đồng).
Sau đó bà H1 đóng tiền lãi cho bị cáo L còn 500.000 đồng/ngày (tương ứng 182,5%/năm) và đóng tiền lãi được 03 ngày là 1.500.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 100.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 03 ngày = 164.384 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 1.500.000 đồng - 164.384 đồng = 1.335.616 đồng (một triệu ba trăm ba mươi lăm nghìn sáu trăm mười sáu đồng).
Sau đó bà H1 đóng tiền lãi cho bị cáo L còn 300.000 đồng/ngày (tương ứng 109,5%/năm) và đóng tiền lãi được 02 ngày là 600.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 100.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 02 ngày = 109.589 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 600.000 đồng - 109.589 đồng = 490.411 đồng (bốn trăm chín mươi nghìn bốn trăm mười một đồng).
Tuy nhiên theo bà H1 trình bày lãi suất bà H1 phải đóng mỗi ngày cho bị cáo L đối với số tiền vay 100.000.000 đồng là 700.000 đồng (tương ứng 255,5%/năm). Bà H1 đã đóng tiền lãi cho bị cáo L được 15 ngày từ ngày 10/6/2023 đến ngày 24/6/2023 với số tiền 10.500.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 100.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 15 ngày = 821.918 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 10.500.000 đồng - 821.918 đồng = 9.678.082 đồng (chín triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn không trăm tám mươi hai đồng).
Như vậy, đối với lần vay thứ nhất, qua giấy mượn tiền và biên nhận, cùng sự thừa nhận của bị cáo Huỳnh Ngọc L xác định vào ngày 04/6/2023 và ngày 10/6/2023, bị cáo đã hai lần cho bà H1 vay với tổng số tiền là 100.000.000 đồng, mức lãi suất dao động từ 109,5%/năm đến 255,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính là: 6.452.055 + 1.335.616 + 490.411 = 8.278.082 đồng.
- Lần thứ hai (biên nhận mượn tiền ngày 21/7/2023 âm lịch): Ngày 05/9/2023 (21/7/2023 âm lịch) bà H1 vay bị cáo L thêm 100.000.000 đồng với số tiền cộng 100.000.000 triệu đồng lần vay thứ nhất lại thành 200.000.000 đồng và đóng lãi cho bị cáo L là 500.000 đồng/ngày (tương ứng 91,25%/năm), bà H1 đóng lãi được 10 ngày từ ngày 21/10/2023 đến ngày 30/10/2023 là 5.000.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 200.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 10 ngày = 1.095.890 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 5.000.000 đồng - 1.095.890 đồng = 3.904.110 đồng (ba triệu chín trăm lẽ bốn nghìn một trăm mười đồng).
Tuy nhiên theo bà H1 trình bày đối với số tiền vay 200.000.000 đồng, lãi suất bà H1 phải đóng mỗi ngày cho bị cáo L là 1.400.000 đồng và đóng được 20 ngày, từ ngày 21/7/2023 đến ngày 09/8/2023 là 28.000.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 200.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 20 ngày = 2.191.781 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 28.000.000 đồng - 2.191.781 đồng = 25.808.219 đồng (hai mươi lăm triệu tám trăm lẽ tám nghìn hai trăm mười chín đồng).
Như vậy, đối với lần vay thứ hai, qua biên nhận mượn tiền, cùng sự thừa nhận của bị cáo Huỳnh Ngọc L xác định vào ngày 05/9/2023, bị cáo đã cho bà H1 vay thêm 100.000.000 đồng, cộng với số tiền 100.000.000 đồng đã vay của lần thứ nhất thành tổng số tiền vay là 200.000.000 đồng, với mức lãi suất là 91,25%/năm, số tiền thu lợi bất chính là: 3.904.110 đồng.
- Lần thứ ba (biên nhận mượn tiền ngày 15/9/2023): Đến ngày 15/9/2023 bà H1 hỏi vay bị cáo L thêm 100.000.000 đồng nữa, cộng thêm 200.000.000 đồng lần vay thứ hai thành 300.000.000 đồng thỏa thuận đóng lãi 1.500.000 đồng/ngày (tương ứng 182,5%/năm). Bà H1 đóng tiền lãi cho bị cáo L được 10 ngày từ ngày 10/11/2023 đến ngày 19/11/2023, với số tiền đóng lãi là 1.500.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 300.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 10 ngày = 1.643.836 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 15.000.000 đồng - 1.643.836 đồng = 13.356.164 đồng (mười ba triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn một trăm sáu mươi bốn đồng).
Đến ngày 20/11/2023 bà H1 đóng tiền lãi cho bị cáo L còn 800.000 đồng/ngày (tương ứng 97,3%/năm) và đóng lãi được 10 ngày từ ngày 20/11/2023 đến ngày 29/11/2023, với số tiền đóng lãi là 8.000.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 300.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 10 ngày = 1.643.836 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 8.000.000 đồng - 1.643.836 đồng = 6.356.164 đồng (sáu triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn một trăm sáu mươi bốn đồng).
Đến ngày 30/11/2023 bà H1 đóng tiền lãi cho bị cáo L còn 600.000 đồng/ngày (tương ứng 73%/năm) và đóng lãi được 30 ngày từ ngày 30/11/2023 đến ngày 29/12/2023, với số tiền đóng lãi là 18.000.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 300.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 10 ngày = 4.931.507 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 18.000.000 đồng - 4.931.507 đồng = 13.068.493 đồng (mười ba triệu không trăm sáu mươi tám nghìn bốn trăm chín mươi ba đồng).
Tuy nhiên theo bà H1 trình bày với số tiền 300.000.000 đồng. Ban đầu, bà H1 đóng tiền lãi mỗi ngày là 2.100.000 đồng (tương ứng 255,5%/năm) và đã đóng lãi được 07 ngày từ ngày 15/9/2023 đến ngày 21/9/2023, với số tiền đóng lãi là 14.700.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 300.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 07 ngày = 1.150.685 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 14.700.000 đồng - 1.150.685 đồng = 13.549.315 đồng (mười ba triệu năm trăm bốn mươi chín nghìn ba trăm mười lăm đồng).
Cũng trong ngày 21/9/2023 bà H1 xin bị cáo L đóng lãi còn 1.500.000 đồng/ngày (tương ứng 182,5%/năm), bà H1 đóng lãi được 07 ngày từ ngày 22/9/2023 đến ngày 28/09/2023 với số tiền 10.500.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 300.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 07 ngày = 1.150.685 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 10.500.000 đồng - 1.150.685 đồng = 9.349.315 đồng (chín triệu ba trăm bốn mươi chín nghìn ba trăm mười lăm đồng).
Trong ngày 28/9/2023 bà H1 xin đóng lãi còn 800.000 đồng/ngày (tương ứng 97,3%/năm) bà H1 đóng lãi được 82 ngày từ ngày 29/9/2023 đến ngày 19/12/2023 với số tiền 65.600.000 đồng (sáu mươi lăm triệu sáu trăm nghìn đồng). Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 300.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 82 ngày = 13.479.452 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 65.600.000 đồng - 13.479.452 đồng = 52.320.548 đồng (năm mươi hai triệu ba trăm hai mươi nghìn năm trăm bốn mươi tám đồng).
Như vậy, đối với lần vay thứ ba, qua biên nhận mượn tiền, cùng sự thừa nhận của bị cáo Huỳnh Ngọc L xác định vào ngày 15/9/2023, bị cáo đã cho bà H1 vay thêm 100.000.000, cộng với 200.000.000 đồng của lần vay thứ hai thành tổng số tiền vay là 300.000.000 đồng, mức lãi suất dao động từ 73%/năm đến 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính là: 13.356.164 + 6.356.164 + 13.068.493 = 32.780.821 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Trà Vinh đã tiến hành cho bà H1 đối chất với bị cáo L. Qua đối chất cả hai đều bảo vệ quan điểm của mình như đã nêu ở trên.
Như vậy, tổng số tiền bị cáo L cho bà H1 vay là 300.000.000 đồng và tổng số tiền lãi thu lợi bất chính từ bà H1 trong 03 lần vay trên là 44.963.014 đồng (bốn mươi bốn triệu chín trăm sáu mươi ba nghìn không trăm mười bốn đồng). Trong đó, lãi suất vượt hơn gấp 05 lần lãi xuất quy định là 21.634.246 đồng (hai mươi mốt triệu sáu trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi sáu đồng), lãi suất không vượt gấp 05 lần lãi suất quy định là 23.328.767 đồng (hai mươi ba triệu ba trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm sáu mươi bảy đồng).
2- Đối với bà Đặng Thị Hồng T
- Lần thứ nhất: Trước đây (không nhớ thời gian) bị cáo L có cho bà T vay tiền năm lần, tổng cộng là 700.000.000 đồng và thỏa thuận lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương ứng 182,5%/năm). Bà T đóng lãi cho bị cáo L được hai tháng là 60 ngày (không nhớ thời gian cụ thể) với số tiền 70.000.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 700.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 60 ngày = 23.013.699 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 70.000.000 đồng - 23.013.699 đồng = 46.986.301 đồng (bốn mươi sáu triệu chín trăm tám mươi sáu nghìn ba trăm lẻ một đồng).
Sau đó bà T sợ đóng lãi nên mới kêu bán đất và nhà cho bị cáo L số tiền 1.000.000.000 đồng trừ và o tiền gốc vay 700.000.000 đồng và đưa thêm cho bà T số tiền 300.000.000 đồng.
Tuy nhiên theo bà T trình bày vào khoảng đầu tháng 10/2022 bà có vay tiền của bị cáo L số tiền 100.000.000 đồng, thỏa thuận lãi xuất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương ứng 182,5%/năm), đến khoảng cuối tháng 10/2022 bà T đã trả hết gốc và lãi cho bị cáo L. Lần này bà T không nhớ rõ là vay ngày nào, đóng lãi đến thời gian nào nên không thể tính số tiền thu lợi bất chính được.
Ngày 01/12/2022, bà T vay bị cáo L số tiền 800.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương ứng 182,5%/năm). Bà T đã đóng tiền lãi cho bị cáo L được 24 ngày từ ngày 01/12/2022 đến ngày 24/12/2022 là 96.000.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 800.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 24 ngày = 10.520.548 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 96.000.000 đồng - 10.520.548 đồng = 85.479.452 đồng (tám mươi lăm triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn bốn trăm năm mươi hai đồng).
Ngày 25/12/2022, bà T vay thêm bị cáo L 100.000.000 đồng và cộng với số tiền 800.000.000 đồng của lần vay ngày 01/12/2024 thành 900.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương ứng 182,5%/năm). Bà T đã đóng lãi cho bị cáo L được 11 ngày từ ngày 25/12/2022 đến ngày 04/01/2023 là 49.500.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 900.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 11 ngày = 5.424.658 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 49.500.000 đồng - 10.520.548 đồng = 44.075.342 đồng (bốn mươi bốn triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng).
Ngày 05/01/2023, bà T tiếp tục vay bị cáo L 200.000.000 đồng và cộng với số tiền còn nợ trước 900.000.000 đồng thành 1.100.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương ứng 182,5%/năm). Bà T đóng tiền lãi cho bị cáo L được 51 ngày từ ngày 05/01/2023 đến ngày 26/02/2023 là 280.500.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 1.000.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 51 ngày = 30.739.726 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 280.500.000 đồng - 30.739.726 đồng = 249.760.274 đồng.
Như vậy, đối với lần vay thứ nhất, thông qua lời khai nhận của bị cáo L, bị cáo đã năm lần cho bà Đặng Thị Hồng T vay với tổng số tiền là 700.000.000 đồng, với mức lãi suất là 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính là: 46.986.301 đồng.
- Lần thứ hai (Biên nhận ngày 07/6/2024): Bị cáo L cho bà T vay tiền hai lần mỗi lần 100.000.000 đồng tổng cộng 200.000.000 đồng, thỏa thuận lãi xuất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương ứng 182,5%/năm) với số tiền 200.000.000 đồng và đóng lãi được 30 ngày (không nhớ là tháng nào). Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 300.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 30 ngày = 3.287.671 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 10.000.000 đồng - 3.287.671 đồng = 6.712.329 đồng (sáu triệu bảy trăm mười hai nghìn ba trăm hai mươi chín đồng). Hiện bà T vẫn còn nợ bị cáo L số tiền gốc 200.000.000 đồng.
Tuy nhiên theo bà T trình bày vào ngày 04/5/2023, bà vay bị cáo L với số tiền 100.000.000 đồng, thõa thuận lãi xuất 5,000 đồng/1,000,000 đồng/ngày (tương ứng 182,5%/năm). Bà T đóng tiền lãi cho bà L được 34 ngày từ ngày 04/5/2023 đến ngày 06/6/2023 là 17.000.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 100.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 34 ngày = 1.863.014 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 17.000.000 đồng - 1.863.014 đồng = 15.136.986 đồng.
Vào ngày 07/6/2023, bà T vay bị cáo L 100.000.000 đồng cộng với số tiền vay 100.000.000 đồng ngày 04/5/2023 là thành số tiền vay 200.000.000 đồng, thõa thuận lãi xuất 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày (tương ứng 182,5%/năm). Bà T đã đóng tiền lãi cho bị cáo L được 58 ngày từ ngày 07/6/2023 đến ngày 03/8/2023 là 58.000.000 đồng. Theo quy định, lãi suất nhà nước cho phép là 100.000.000 đồng x (20%/365 ngày) x 58 ngày = 6.356.164 đồng. Bị cáo L thu lợi bất chính: 17.000.000 đồng - 1.863.014 đồng = 51.643.836 đồng.
Như vậy, đối với lần vay thứ hai, thông qua biên nhận và lời khai nhận của bị cáo L, bị cáo đã hai lần cho bà Đặng Thị Hồng T vay với tổng số tiền là 200.000.000 đồng, với mức lãi suất là 182,5%/năm, số tiền thu lợi bất chính là: 6.712.329 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Trà Vinh đã tiến hành cho bà T đối chất với bị cáo L. Qua đối chất cả hai đều bảo vệ quan điểm của mình như đã nêu ở trên.
Như vậy, tổng số tiền bị cáo L cho bà T vay là 900.000.000 đồng và tổng số tiền lãi thu lợi bất chính từ bà T trong hai lần vay trên là: 46.986.301 + 6.712.329 = 53.698.630 đồng (năm mươi ba triệu sáu trăm chín mươi tám nghìn sáu trăm ba mươi đồng).
Tổng số tiền lãi thu lợi bất chính mà bị cáo L đã thu từ bà H1 và bà T theo sự thừa nhận của bị cáo L là: 44.963.014 đồng + 53.698.630 đồng = 98.661.644 đồng (chín mươi tám triệu sáu trăm sáu mươi mốt nghìn sáu trắm bốn mươi bốn đồng).
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án:
+ Về tình tiết tăng nặng: không.
+ Về tình tiết giảm nhẹ: không.
+ Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Đối với bà Nguyễn Thị Mỹ H1: bị cáo đã thu lợi bất chính của bà Hằng số tiền 44.963.014 đồng. Trong đó, lãi suất vượt hơn gấp 05 lần lãi suất quy định là 21.634.246 đồng (hai mươi mốt triệu sáu trăm ba mươi bốn nghìn hai trăm bốn mươi sáu đồng), lãi suất không vượt gấp 05 lần lãi suất quy định là 23.328.767 đồng (hai mươi ba triệu ba trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm sáu mươi bảy đồng).
Đối với bà Đặng Thị Hồng T: bị cáo đã thu lợi bất chính của bà T số tiền 53.698.630 đồng. Hiện bà T vẫn còn nợ bị cáo L số tiền gốc 200.000.000 đồng.
Đối với bà Khưu Thị B1: tuy có nhận tiền dùm bị cáo Huỳnh Ngọc L nhưng không biết đây là tiền lãi mà bà H1 trả cho bị cáo Huỳnh Ngọc L nên không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo L, do đó không xem xét, xử lý.
Ngày 08/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Trà Vinh có ra Công văn số 2951/ĐCSKT-MT yêu cầu Đội Cảnh sát giao thông, trật tự Công an thành phố T tạm ngưng giao dịch tất cả phương tiện giao thông cơ giới đường bộ liên quan đến bị cáo Huỳnh Ngọc L để đảm bảo cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngày 10/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Trà Vinh có ra Công văn số 2973/ĐCSKT-MT yêu cầu Văn phòng đăng ký Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T tạm ngưng giao dịch tất cả bất động sản liên quan đến bị cáo Huỳnh Ngọc L để đảm bảo cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HSST ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Ngọc L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 201; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc L 50.000.000 đồng.
Buộc bị cáo Huỳnh Ngọc L nộp 790.000.000 đồng tiền bị cáo cho vay và 36.438.267 đồng tiền lãi thu được sung vào ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/02/2025, bị cáo Huỳnh Ngọc L kháng cáo không đồng ý nộp lại số tiền 790.000.000 (bảy trăm chín mươi triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Huỳnh Ngọc L thừa nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã thể hiện, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gì mới.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Ngọc L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là đúng quy định pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo Huỳnh Ngọc L nộp 790.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước là có căn cứ, bởi vì tại điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 21/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định “tịch thu sung quỹ nhà nước đối với: Khoản tiền, tài sản khác người phạm tội dùng để cho vay”, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo cũng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới. Từ những căn cứ nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc L. Tại phiên tòa bị cáo không cung cấp thêm thêm tình tiết gì mới, những tình tiết này đã được cấp sơ thẩm đã làm rõ giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
Quan điểm người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Ngọc L: Vị hoàn toàn thống nhất với số tiền phạt và tội danh Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Huỳnh Ngọc L về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 790.000.000 đồng. Hiện nay trong điều kiện hoàn cảnh khó khăn, số tiền bị cáo cho vay 1.200.000.000 đồng, bị cáo nhận lại số tiền 790.000.000 đồng, còn lại 410.000.000 đồng là tiền của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan còn nợ bị cáo. Số tiền 400.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước và buộc bị cáo tiếp tục nộp số tiền 790.000.000 đồng là hết sức khó khăn đối với bị cáo vì hiện nay hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn, bị cáo đã lớn tuổi, bị bệnh thường xuyên, không còn khả năng lao động để có tiền nộp lại, bị cáo có nhiều người thân tham gia cách mạng, bị cáo đang nuôi Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo không buộc bị cáo nộp lại số tiền 790.000.000 đồng như cấp sơ thẩm đã buộc.
Lời nói sau cùng của bị cáo Huỳnh Ngọc L: Bị cáo thống nhất với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận theo trình tự xét xử phúc thẩm.
[2] Đối với kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc L Hội đồng xét xử nhận định: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là phù hợp với quy định của pháp luật bởi vì bị cáo cho vay nhiều lần số tiền cộng lại các lần là 1.200.000.000 đồng đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan với lãi suất vượt gấp 5,48 lần đến 12,8 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự (từ 109,5%/năm đến 255,5%/năm so với mức lãi suất cao nhất cho phép là 20%/năm). Tổng số tiền mà bị cáo Huỳnh Ngọc L đã cho bà Nguyễn Thị Mỹ H1 và bà Đặng Thị Hồng T vay là 1.200.000.000 đồng, trong đó tiền lãi suất vượt hơn gấp 05 lần lãi suất quy định là: 75.332.877 (bảy mươi lăm triệu ba trăm ba mươi hai nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng). Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được Cơ quan điều tra thu thập. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Huỳnh Ngọc L tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Về hình phạt: Về hình phạt, bị cáo không kháng cáo, bị cáo kháng cáo xin xem xét số tiền buộc bị cáo nộp lại là 790.000.000 đồng. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo Huỳnh Ngọc L nộp 790.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước là có căn cứ, bởi vì số tiền 700.000.000 đồng bị cáo cho bà Đặng Thị Hồng T vay và cho bà Nguyễn Thị Mỹ H1 vay 300.000.000 đồng, với lãi suất cao hơn gấp 5 lần lãi suất 20%/ năm đã được bà T trả 700.000.000 đồng và bà H1 trả 90.000.000 đồng cho bị cáo, tại điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 21/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định “tịch thu sung quỹ nhà nước đối với: Khoản tiền, tài sản khác người phạm tội dùng để cho vay”. Do đó số tiền 790.000.000 đồng là tiền bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do đó Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị cáo nộp lại số tiền này sung vào ngân sách nhà nước là có căn cứ theo quy định của pháp luật như Nghị quyết đã nêu trên. Dó đó đơn kháng cáo của bị cáo cũng như ý kiến của người bào chữa cho bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc nhưng không phù hợp với quy định trên nên không được chấp nhận.
[4] Đề nghị của Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm là phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Do bị cáo là người trên 60 tuổi nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Huỳnh Ngọc L.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HS-ST, ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc L 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
Buộc bị cáo Huỳnh Ngọc L nộp 790.000.000 (bảy trăm chín mươi triệu) đồng tiền bị cáo cho vay và 36.438.267 (ba mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn hai trăm sáu mươi bảy) đồng tiền lãi thu được sung vào ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Mến |
Bản án số 19/2025/HS-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 19/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho Vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
