Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ỨNG HÒA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS - ST

Ngày: 20 - 3 - 2025.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vân và ông Đặng Viết Côi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bà Nguyễn Diệu Tuyết – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 16/2025/TLST - HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST - HS, ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Trần Đức C, sinh năm 1980 tại tỉnh Hà Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Tổ dân phố V, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức S và bà Bùi Thị T; vợ là Vũ Thị Thu H và 02 con (lớn 19 tuổi, nhỏ 17 tuổi); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024 đến ngày 16/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  2. Tạ Văn K, sinh năm 1970 tại Thành phố Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn C, xã T, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn K1 và bà Đàm Thị T1; vợ là Hoàng Thị N và 03 con (lớn nhất 28 tuổi, nhỏ nhất nhất 15 tuổi); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024 đến ngày 16/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  3. Nguyễn Văn K2, sinh năm 1950 tại Thành phố Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã T, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; cư trú tại: Thôn C, xã T, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn G và bà Đặng Thị H1; vợ là Chu Thị T2 và 01 con 28 tuổi; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024 đến ngày 20/12/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  4. Phạm Thị M, sinh năm 1967 tại Thành phố Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn A, xã T, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B và bà Nguyễn Thị D; chồng là Phạm Văn T3 và 04 con (lớn nhất 40 tuổi, nhỏ nhất 25 tuổi); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2024 đến ngày 20/12/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K2 là: Ông Nguyễn Ngọc C1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 35 phút ngày 17/12/2024 tại nhà Tạ Văn K, sinh năm 1970 ở thôn C, xã T, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội và nhà Phạm Thị M, sinh năm 1967 ở thôn A, xã T, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội, Công an huyện Ứ đã tiến hành kiểm tra, phát hiện Tạ Văn K và Phạm Thị M có hành vi mua bán số lô, số đề trên điện thoại. Nhận thấy không thể che giấu hành vi phạm tội của mình, Tạ Văn K và Phạm Thị M đã đầu thú, khai nhận về hành vi đánh bạc. Cùng ngày ngày 17/12/2024, Nguyễn Văn K2, sinh năm 1950, trú tại: Thôn C, xã T, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội và Trần Đức C, sinh năm 1980, trú tại: Tổ dân phố V, phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam đến Công an huyện Ứ đầu thú và khai nhận về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc của mình ngày 17/12/2024.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1938, số IMEI 1: 86458804948718, IMEI 2:864588049248700 bên trong lắp 01 sim số 0898117415 (thu của Tạ Văn K).
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng dung lượng 32GB, lắp sim Itel số 0879.440.xxx (thu của Phạm Thị M).
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax màu vàng, dung lượng 128GB, IMEI: 353854139208741, bên trong lắp 01 sim Viettel số 0365.223.xxx (thu của Nguyễn Văn K2).
  • 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 màu tím, số EMEI 1: 35263016012835967, số EMEI 2: 3528816902835969 bên trong lắp 01 sim Vinaphone số 0911.563.xxx (thu của Trần Đức C).

Quá trình điều tra làm rõ:

Về hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn K2:

Qua quen biết Khá biết Tạ Văn K có nhận ghi các số lô, số đề, nên ngày 17/12/2024, K2 ghi các số lô, số đề ra giấy rồi chụp ảnh và sử dụng tài khoản Zalo tên “Nguyễn Văn K2” đăng ký bằng số điện thoại 0365.223.xxx nhắn tin gửi ảnh chụp đến tài khoản Zalo “Thảo Nguyên” của K. Việc xác định được thua sẽ được đối chiếu dựa trên kết quả xổ số kiến thiết miền B cùng ngày. Hai bên nhất với nhau số lô gồm là 02 số cuối cùng của các giải; lô Khoái thu 21.800 đồng/1 điểm, nếu trúng thì được 80.000 đồng/1 điểm; lô xiên 2, lô xiên 3 Khoái thu 75% số tiền đánh, nếu trúng lô xiên 2 thì được gấp 10 lần số tiền đánh, lô xiên 3 được gấp 40 lần. Đề, đề 3 càng Khoái thu 83% số tiền đánh, trúng đề ba càng (03 số cuối của giải đặc biệt) được gấp 400 lần số tiền đánh, trúng đề hai càng (hai số cuối giải đặc biệt) được gấp 70 lần số tiền đánh. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền B ngày hôm đó để tính được thua với nhau, cụ thể số lô, số đề K mua của K2 như sau: Số đề (13, 31) mỗi con 250.000 đồng = 500.000 đồng, số đề (01, 10,03, 30, 37, 73) mỗi con 500.000 đồng = 3.000.000 đồng; tổng thu tiền đề là 3.500.000 đồng x 83% = 2.905.000 đồng. Các số lô (11, 66) mỗi con 100 điểm = 200 điểm, (37,73,03,30) mỗi con 25 điểm = 100 điểm; tổng thu tiền lô là 300 điểm x 21.800 đồng = 6.540.000 đồng. Tổng thu tiền đề, tiền lô là 2.905.000 đồng + 6.540.000 đồng = 9.445.000 đồng.

Căn cứ Hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và văn bản hướng dẫn số 01/2017/GĐ- TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao: “Số tiền dùng để đánh bạc là số tiền mà họ đã bỏ ra không chỉ là số tiền thực tế họ đưa cho người ghi đề, ghi cá độ mà phải là số tiền ghi trên tờ phơi”.

Như vậy, số tiền K2 sử dụng để đánh lô, đề với K là: 3.500.000 đồng + 6.540.000 đồng = 10.040.000 đồng.

Căn cứ vào kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng ngày 17/12/2024 thì K2 trúng số đề 73 = 500.000 đồng x 70 lần = 35.000.000 đồng, số lô 73 = 25 điểm x 2 lần = 50 điểm, số 37 = 25 điểm, số lô 66 = 100 điểm. Tổng số tiền trúng lô: 175 điểm x 80.000 đồng = 14.000.000 đồng. Số tiền lô, tiền đề ông K2 trúng là 35.000.000 đồng + 14.000.000 đồng = 49.000.000 đồng.

Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 10.040.000 đồng + 49.000.000 đồng = 59.040.000 đồng. Khá và K chưa thanh toán số tiền đánh và số tiền thắng thua cho nhau.

Về hành vi đánh bạc của Phạm Thị M:

Qua quen biết Mận biết Tạ Văn K có nhận ghi các số lô, số đề nên ngày 17/12/2024, M đã sử dụng tài khoản Zalo tên “B” đăng ký bằng số điện thoại 0879.440.xxx nhắn tin, gửi ảnh trao đổi mua các số lô, số đề với K qua tài khoản Zalo Mận lưu tên là “Cô N” của K.

Việc xác định được thua sẽ được đối chiếu dựa trên kết quả xổ số kiến thiết miền B cùng ngày, hai bên nhất với nhau số lô gồm là 02 số cuối cùng của các giải, lô Khoái thu 21.800 đồng/1 điểm, nếu trúng thì được 80.000 đồng/1 điểm. Lô xiên 2, lô xiên 3 Khoái thu 73% số tiền đánh, nếu trúng lô xiên 2 thì được gấp 10 lần số tiền đánh, lô xiên 3 được gấp 40 lần. Đề Khoái thu 83% số tiền đánh, trúng đề (hai số cuối giải đặc biệt) được gấp 80 lần số tiền đánh; đề 3 càng Khoái thu 73% số tiền đánh, trúng đề ba càng (03 số cuối của giải đặc biệt) được gấp 400 lần số tiền đánh. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền B ngày hôm đó để tính được thua với nhau. Cụ thể các số lô, số đề K mua của M như sau:

Số lô: Các số (97, 37) mỗi con 60 điểm = 120 điểm, các số (14, 41, 27, 72, 69, 36, 71, 66) mỗi con 10 điểm = 80 điểm, số (63, 96) mỗi con 5 điểm = 10 điểm, số 79 = 65 điểm, số 17 = 20 điểm, số 04 = 100 điểm. Tổng thu tiền lô là 395 điểm x 21.800 đồng = 8.611.000 đồng.

Số đề: Các số (79, 97, 98, 89, 39, 93, 23, 32, 07, 36, 63, 30) mỗi con 10.000 đồng = 120.000 đồng; các số (19, 91, 18, 13, 31, 36, 81, 86, 43, 34, 89, 98, 03, 30, 53) mỗi con 20.000 đồng = 300.000 đồng; các số (66, 70, 91, 46, 64) mỗi con 50.000 đồng = 250.000 đồng; các số (36, 55) mỗi con 40.000 đồng = 80.000 đồng; các số (92, 07) mỗi con 500.000 đồng = 1.000.000 đồng; các số (23, 32) mỗi con 600.000 đồng = 1.200.000 đồng; các số (25, 52, 35) mỗi con 30.000 đồng = 90.000 đồng; các số (26, 16, 66, 96) mỗi con 25.000 đồng = 100.000 đồng.

Đề đầu 9 gồm: (90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99) mỗi con 15.000 đồng = 150.000 đồng. Đề đuôi 9 gồm: (09, 19, 29, 39, 49, 59, 69, 79, 89, 99) mỗi con 15.000 đồng=150.000 đồng. Đề bộ 14 gồm: (14, 41, 19, 91, 64, 46, 69, 96) mỗi con 10.000 đồng = 80.000 đồng. Đề bộ 11 gồm: (11, 16, 61, 66) mỗi con 10.000 đồng = 40.000 đồng. Đề bộ C3 gồm: (33, 38, 83, 88) mỗi con 10.000 đồng = 40.000 đồng. Đề bộ 03 gồm: (03, 30, 08, 80, 53, 35, 58, 85) mỗi con 50.000 đồng = 400.000 đồng. Đề bộ 46 gồm: (46, 64, 41, 14, 96, 69, 91, 19) mỗi con 50.000 đồng = 400.000 đồng. Đề đầu 3 gồm: (30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39) mỗi con 10.000 đồng = 100.000 đồng. Đề đầu 8 gồm: (80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89) mỗi con 10.000 đồng = 100.000 đồng. Đề tổng 7 gồm: (16, 61, 25, 52, 34, 43, 07, 70, 89, 98) mỗi con 10.000 đồng = 100.000 đồng. Tổng thu tiền đề là 4.700.000 đồng x 83% = 3.901.000 đồng. Đề 3 càng gồm: (146, 246) mỗi con 70.000 = đồng 140.000 đồng x 73% = 102.200 đồng. Tổng thu tiền đề, lô là 8.611.000 đồng +3.901.000 đồng + 102.200 đồng =12.614.200 đồng.

Tổng số tiền M sử dụng để đánh lô, đề với K là: 8.611.000 đồng + 4.700.000 đồng + 140.000 đồng = 13.451.000 đồng.

Đối chiếu với kết quả xổ số miền B cùng ngày thì M trúng các số lô 97 = 60 điểm, số 37 = 60 điểm, số 14 = 10 điểm, số 66 = 10 điểm; số 36 = 10 điểm x 2 lần= 20 điểm, số 96 = 05 điểm x 2 lần =10 điểm. Tổng số tiền trúng lô là 170 điểm x 80.000 đồng = 13.600.000đ.

Như vậy, tổng số tiền sử dụng vào mục đích để đánh bạc giữa M và K là: 13.451.000 đồng + 13.600.000 đồng = 27.051.000 đồng. Mận và K chưa thanh toán số tiền đánh và số tiền thắng thua cho nhau.

Về hành vi tổ chức đánh bạc của K và C:

Khoảng tháng 10/2024, Tạ Văn K và Trần Đức C có giao lưu kết bạn zalo với nhau. Qua nói chuyện K biết C có nhận bảng số lô, đề nên hai bên thống nhất với nhau Khoái sẽ chuyển toàn bộ số lô, số đề nhận ghi cho C và hưởng tiền chênh lệch, thỏa thuận: Số lô, Cơ thu 21.700 đồng/1 điểm, nếu trúng thì được 80.000 đồng/1 điểm; Đề Cơ thu 82% số tiền đánh, trúng đề (hai số cuối giải đặc biệt) được gấp 70 lần số tiền đánh, đề 3 càng Cơ thu 60% số tiền đánh, trúng đề ba càng (03 số cuối của giải đặc biệt) được gấp 400 lần số tiền đánh. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết miền B ngày hôm đó để tính được thua với nhau.

Ngày 17/12/2024, K dùng tài khoản Zalo mang tên “Thảo Nguyên” đăng ký bằng số điện thoại 0898.117.xxx nhắn tin chuyển toàn bộ bảng số lô, số đề K nhận ghi của M, Khá ngày 17/12/2024 cùng các số lô, số đề của khách vãng lai khác cho C. Cụ thể các số lô, số đề gồm:

Số đề: Các số (13, 31) mỗi con 250.000 đồng = 500.000 đồng; các số (01,10, 03, 30, 37,73) mỗi con 500.000 đồng = 3.000.000 đồng; các số (79, 97, 98, 89, 39, 93, 23, 32, 07, 36, 63, 30) mỗi con 10.000 đồng = 120.000 đồng; các số (19, 91, 18, 13, 31, 36, 81, 86, 43, 34, 89, 98, 03, 30, 53) mỗi con 20.000 đồng= 300.000 đồng; các số (66, 70, 91, 46, 64) mỗi con 50.000 đồng = 250.000 đồng; các số (36, 55) mỗi con 40.000 đồng = 80.000 đồng; các số (92, 07) mỗi con 500.000 đồng = 1.000.000 đồng; các số (23, 32) mỗi con 600.000 đồng =1.200.000 đồng; các số (25, 52, 35) mỗi con 30.000 đồng = 90.000 đồng; các số (26, 16, 66, 96) mỗi con 25.000 đồng = 100.000 đồng; các số (01, 05, 07, 21, 27, 41, 47) mỗi con 100.000 đồng=700.000 đồng; số 25 =400.000 đồng; các số (23, 43, 45) mỗi con 300.000 đồng = 900.000 đồng; số 92 = 2.800.000 đồng; các số (29, 91, 93, 88, 25, 14) mỗi con 100.000 đồng = 600.000 đồng; các số (56, 65, 39, 93, 26, 62, 23, 33) mỗi con 50.000 đồng = 400.000 đồng; các số (09, 01, 62) mỗi con 200.000 đồng=600.000 đồng; số 41 =350.000 đồng.

Đề đầu 9 gồm: (90, 91, 92, 93, 94, 95, 96, 97, 98, 99) mỗi con 15.000 đồng=150.000 đồng. Đề đuôi 9 gồm: (09, 19, 29, 39, 49, 59, 69, 79, 89, 99) mỗi con 15.000 đồng = 150.000 đồng. Đề bộ 14 gồm: (14, 41, 19, 91, 64, 46, 69, 96) mỗi con 10.000 đồng =80.000 đồng. Đề bộ 11 gồm: (11, 16, 61, 66) mỗi con 10.000 đồng = 40.000 đồng. Đề bộ C3 gồm: (33, 38, 83, 88) mỗi con 10.000 đồng=40.000 đồng. Đề bộ 03 gồm: (03, 30, 08, 80, 53, 35, 58, 85) mỗi con 50.000 đồng =400.000 đồng. Đề bộ 46 gồm: (46, 64, 41, 14, 96, 69, 91, 19) mỗi con 50.000 đồng= 400.000 đồng. Đề đầu 3 gồm: (30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39) mỗi con 10.000 đồng = 100.000 đồng. Đề đầu 8 gồm: (80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 89) mỗi con 10.000 đồng= 100.000 đồng. Đề tổng 7 gồm: (16, 61, 25, 52, 34, 43, 07, 70, 89, 98) mỗi con 10.000 đồng = 100.000 đồng. Đề đầu 0 gồm: (00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09) mỗi con 30.000 đồng= 300.000 đồng. Đề đầu 1 gồm: (10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17. 18, 19) mỗi con 50.000 đồng =500.000 đồng. Tổng thu tiền đề là: 15.750.000 đồng x 82% = 12.915.000 đồng. Đề 3 càng gồm: (146, 246, 141) mỗi con 70.000 đồng = 210.000 đồng; (458, 485, 730) mỗi con 45.000 đồng =135.000 đồng. Tiền thu đề 3 càng là 345.000 đồng x 60% = 207.000 đồng.

Số lô: Các số (11, 66) mỗi con 100 điểm = 200 điểm, (37, 73, 03, 30) mỗi con 25 điểm = 100 điểm; các số (97, 37) mỗi con 60 điểm =120 điểm, các số (14, 41, 27, 72, 69, 36, 71, 66) mỗi con 10 điểm = 80 điểm; các số (63, 96) mỗi con 5 điểm = 10 điểm; số 79 = 65 điểm, số 17 = 20 điểm, số 04 = 100 điểm, số 92 =50 điểm; các số (55, 99) mỗi con 25 điểm = 50 điểm, (14, 98) mỗi con 10 điểm =20 điểm. Tổng số tiền đánh lô là 815 điểm x 21.700 đồng = 17.685.500 đồng.

Lô xiên 2: 92-55=500.000 đồng, 92 – 99=500.000 đồng. Lô xiên 3: 02 – 18 – 99 = 200.000 đồng, 52-53-45 = 500.000 đồng, 86-98- 52=250.000 đồng, 45-52-98 = 250.000 đồng, 70-20-69 = 250.000 đồng. Lô xiên 4: 62-72-32-58=200.000 đồng, 20-98-45-52 = 250.000 đồng. Tổng thu tiền lô xiên: 2.900.000 đồng x 60% = 1.740.000 đồng.

Tổng số tiền K chuyển bảng số lô, đề cho C là 15.750.000 đồng + 345.000 đồng + 17.685.500 đồng + 2.900.000 đồng = 33.780.500 đồng.

Căn cứ vào kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng ngày 17/12/2024, thì K trúng các số đề 73 = 500.000 đồng x 80 lần = 40.000.000 đồng. Các số lô 73 = 25 điểm x 2 lần = 50 điểm; 37 = 85 điểm; 66 = 110 điểm; 97= 60 điểm, 14 = 20 điểm, 36 = 10 điểm x 2 lần = 20 điểm, 96 = 05 điểm x 2 lần =10 điểm; Tổng điểm lô trúng là 355 điểm x 80.000 đồng =28.400.000 đồng. Tổng tiền trúng lô, đề là 68.400.000 đồng. Cơ và K chưa thanh toán số tiền đánh và số tiền thắng thua cho nhau.

Tổng số tiền K và C tổ chức đánh bạc là 33.780.500 đồng + 68.400.000 đồng = 102.180.500 đồng.

Tại cáo trạng số 13/CT - VKS ngày 19/02/2025 của VKSND huyện Ứng Hòa đã truy tố các bị cáo Trần Đức C, Tạ Văn K về tội “ Tổ chức đánh bạc” theo điểm c Khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn K2 về tội “Đánh bạc” theo điểm b Khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Phạm Thị M về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội nêu trên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tuyên bố: Các bị cáo Trần Đức C, Tạ Văn K phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Nguyễn Văn K2, Phạm Thị M phạm tội “Đánh bạc”.
  • Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 322; Điều 17; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, tuyên phạt: Trần Đức C từ 30 tháng đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án; Tạ Văn K từ 24 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi kể từ ngày tuyên án.
  • Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 321; các điểm o, s, x Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự, tuyên phạt: Nguyễn Văn K2 từ 18 tháng đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi kể từ ngày tuyên án.
  • Áp dụng Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, tuyên phạt: Phạm Thị M từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi kể từ ngày tuyên án.
  • Đề nghị truy thu của Tạ Văn K số tiền 10.488.300 đồng do phạm tội mà có; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng của vụ án và buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tranh luận tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn K2 xác định bị cáo bị truy tố ra trước toà về tội danh, điều luật theo Cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát nhân dân là không oan sai. Song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội đã đầu thú và khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là người có công với cách mạng, thời điểm phạm tội trên 70 tuổi; có nhân thân tốt mà giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo dưới mức đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân và cho bị cáo được hưởng án treo.

Các bị cáo đều thừa nhận Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân, không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, Kiểm sát viên... trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dụng vụ án:

Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung Kết luận của cơ quan điều tra, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân, phù hợp với lời khai của chính các bị cáo trong quá trình điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản làm việc; Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; Biên bản thu giữ vật chứng... nên đã có đủ cơ sở xác định: Ngày 17/12/2024, Trần Văn C2 và Tạ Văn K đã tổ chức đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số lô, số đề cho Phạm Thị M, Nguyễn Văn K3 và một số người vãng lai khác (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) bằng hình thức giao dịch trực tiếp và nhắn tin qua điện thoại di dộng với tổng số tiền là 102.180.500 đồng; trong đó Nguyễn Văn K2 đã đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số lô, số đề của Tạ Văn K với tổng số tiền đánh bạc là 59.040.000 đồng, Phạm Thị M đã đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số lô, số đề của Tạ Văn K với tổng số tiền đánh bạc là 27.051.000 đồng. Với hành vi vi phạm nêu trên của các bị cáo, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa truy tố bị cáo Trần Đức C, Tạ Văn K ra trước Tòa để xét xử về tội Tổ chức đánh bạc theo điểm c Khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn K2 về tội Đánh bạc theo điểm b Khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Phạm Thị M về tội Đánh bạc theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ không chỉ trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, gây mất trật tự an ninh địa phương mà còn là một trong những căn nguyên làm phát sinh các loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khiến quần chúng bất bình, dư luận lên án đòi hỏi phải đưa ra xử lý bằng pháp luật hình sự với những mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với vai trò và tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của từng bị cáo đã thực hiện để răn đe riêng và phòng ngừa chung.

Xét bị cáo Trần Đức C, Tạ Văn K đều là người tổ chức đánh bạc. Trong đó Trần Đức C là người tổ chức cho Tạ Văn K bán số lô, số đề cho Trần Đức C; Tạ Văn K là người trực tiếp bán số lô, số đề cho những người đanh bạc để hưởng lợi tiền chênh lệch của người đánh bạc. Vì vậy Trần Đức C giữ vai trò chính trong tội Tổ chức đánh bạc nên chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Tạ Văn K.

Nguyễn Văn K2, Phạm Thị M là những người đánh bạc mua số lô, số đề của Tạ Văn K nên chịu mức hình phạt tương xứng với số tiền từng bị cáo đánh bạc.

Do các bị cáo đều phạm tội lần đầu, trong đó bị cáo M thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đã đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình; quá trình tố tụng đều tỏ ra thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo là lao động chính trong gia đình và có hoàn cảnh khó khăn; bị cáo K2 là người có công với cách mạng (bệnh binh hạng 2/3), thời điểm phạm tội trên 70 tuổi; các bị cáo đều có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng... là tình tiết quy định tại các điểm i, o, s, x Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo (riêng bị cáo K2 cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo dưới mức thấp nhất mà khung hình phạt quy định), đồng thời không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo theo quy định Điều 65 Bộ luật hình sự, giao cho chính quyền địa phương nơi cư trú cùng gia đình giám sát, giáo dục cũng đủ để các bị cáo thấm thía về tội lỗi của mình mà ăn năn hối cải về sau.

Do các bị cáo đều xuất thân từ nghề nông, mặt bằng thu nhập thấp, không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn... nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với các bị cáo là hợp lẽ.

Theo lời khai của Tạ Văn K, ngày 17/12/2024 K còn trực tiếp bán số lô, số đề cho một số đối tượng vãng lai với tổng số tiền 10.488.300 đồng. Do K không biết, tuổi, địa chỉ của những người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý, vì vậy chưa xét trong vụ án này đối với những đối tượng trên.

Về vật chứng của của án:

Đối với số tiền 10.488.300 đồng Tạ Văn K đã bán số lô, số đề cho các đối tượng vãng lai mà có nên cần truy thu sung công quỹ Nhà nước.

Các vật chứng khác gồm: 01 chiếc điện thoại di dộng Iphone 6s Plus màu vàng dung lượng 32GB, lắp sim iTel số 0879.440.xxx đã qua sử dụng (thu của Phạm Thị M); 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Vivo 1938, số IMEI: 864588049248718, IMEI 2: 864588049248700, bên trong lắp 01 sim số 0898117415 đã qua sử dụng (thu của Tạ Văn K); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax màu vàng, dung lượng 128GB, IMEI: 353854139208741, bên trong lắp 01 sim Viettel số 0365.223.xxx (thu của Nguyễn Văn K2) và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 màu tím, số IMEI 1: 352630602835967, số IMEI 2: 352816902835969 bên trong lắp 01 sim Vinaphone số 0911.563.xxx (thu của Trần Đức C) đều là công cụ phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Ngoài hình phạt, các bị cáo còn phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Đức C, Tạ Văn K phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Nguyễn Văn K2, Phạm Thị M phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 322; Điều 17; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử:
    • - Phạt bị cáo Trần Đức C 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.
    • - Phạt bị cáo Tạ Văn K 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
  3. Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 321; các điểm o, s, x Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử:
    • Phạt bị cáo Nguyễn Văn K2 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 40 (Bốn mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.
  4. Áp dụng Khoản 1 Điều 321; các điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử:
    • Phạt bị cáo Phạm Thị M 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án.
  5. Giao bị cáo Trần Đức C cho Ủy ban nhân dân phường B, thị xã D, tỉnh Hà Nam kết hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  6. Giao các bị cáo Tạ Văn K, Nguyễn Văn K2 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  7. Giao bị cáo Phạm Thị M cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  8. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
  9. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  10. Áp dụng điểm các điểm a, b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
    • + Truy thu của bị cáo Tạ Văn K số tiền 10.488.300 đồng (Mười triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn ba trăm đồng) do phạm tội mà có để sung công quỹ Nhà nước.
    • + Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
      • - 01 chiếc điện thoại di dộng Iphone 6s Plus màu vàng dung lượng 32GB, lắp sim iTel số 0879.440.xxx đã qua sử dụng (thu của Phạm Thị M).
      • - 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Vivo 1938, số IMEI: 864588049248718, IMEI 2: 864588049248700, bên trong lắp 01 sim số 0898117415 đã qua sử dụng (thu của Tạ Văn K).
      • - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax màu vàng, dung lượng 128GB, IMEI: 353854139208741, bên trong lắp 01 sim Viettel số 0365.223.xxx đã qua sử dụng (thu của Nguyễn Văn K2).
      • - 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S21 màu tím, số IMEI 1: 352630602835967, số IMEI 2: 352816902835969 bên trong lắp 01 sim Vinaphone số 0911.563.xxx đã qua sử dụng (thu của Trần Đức C).
    • Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2025.
  11. Áp dụng Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
    • Buộc các bị cáo Trần Đức C, Tạ Văn K, Nguyễn Văn K2 và Phạm Thị M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  12. Án xử công khai sơ thẩm, báo các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Trung tâm Lý lịch tư pháp TW - Bộ tư pháp;
  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Ứng Hòa;
  • - Công an Thành phố Hà Nội;
  • - Chi cục THADS huyện Ứng Hòa;
  • - UBND xã nơi cư trú của bị cáo.
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lê Anh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS - ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 19/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trần Đức Cơ phạm tội ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger