Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ GIA MẬP

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HS-ST

Ngày: 01-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Phú Vinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tấn Lãm; bà Nguyễn Thị Mùa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hữu Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐ-XX ngày 05 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/HSST-QĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Văn A (tên gọi khác: Không), sinh năm 1971, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn TL, xã PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần B, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1952; bị cáo có vợ là bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1975 và 02 người con, lớn sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 19 tháng 9 năm 2022, bị Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” (Bản án số: 45/2022/HSST) đã xóa án tích; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 09 tháng 01 năm 2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Ngọc Đ (tên gọi khác: Không), sinh năm 1974, tại Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn KK, xã PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc E, sinh năm 1946 và bà Trịnh Thị F, sinh năm 1947; bị cáo có vợ là bà Huỳnh Thị Thu G, sinh năm 1980 và 02 người con, lớn sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 06 tháng 8 năm 2013, bị Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập xử

phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” (Bản án số: 105/2013/HSST) đã xóa án tích; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 09 tháng 01 năm 2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Võ Văn H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1963, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn KK, xã PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ I (đã chết) và bà Nguyễn Thị K (đã chết); bị cáo có vợ là bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964 và 04 người con, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không; về nhân thân: Ngày 06 tháng 8 năm 2013, bị Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” (Bản án số: 105/2013/HSST) đã xóa án tích; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 09 tháng 01 năm 2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Nguyễn Văn M (tên gọi khác: Không), sinh năm 1965, tại Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn KK, xã PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị O (đã chết); bị cáo có vợ là bà Hoàng Thị P, sinh năm 1973 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 26 tháng 12 năm 2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay và bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người chứng kiến: Ông Huỳnh Ngọc Q, sinh năm 1960; cư trú: Thôn KK, xã PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Các cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 20 tháng 12 năm 2024, Trần Văn A và Nguyễn Văn M đi đến chơi tại nhà Võ Văn H ở thôn KK, xã PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Tại đây, M, A và H rủ nhau đánh bài “phỏm” thắng thua bằng tiền, nhưng do chưa đủ số người chơi, nên cả ba ngồi uống nước và chờ Nguyễn Ngọc Đ đi đến sẽ tiến hành đánh bạc, vì trước đó A đã gọi điện rủ Đ. Một lúc sau, Đ đi đến thì H đi lấy 02 bộ bài tây loại 52 lá rồi tất cả thống nhất đánh bài phỏm thắng thua bằng tiền nhằm sát phạt nhau để hưởng lợi.

Hình thức đánh bài phỏm như sau: M, A, Đ và H sử dụng bộ bài tây loại 52 lá, sau đó chia đều cho 04 người chơi, mỗi người 09 lá bài (riêng người đánh đầu tiên là 10 lá), các lá bài còn dư úp xuống bàn. Người đánh trước sẽ đánh ra 01 lá bài, người chơi tiếp theo sẽ lấy lá bài đó nếu lá bài đó kết hợp lại với số bài cầm trên tay tạo thành phỏm (lá bài đầu tiên bị lấy thì phải trả số tiền 20.000 đồng, lá thứ hai phải

trả số tiền 40.000 đồng, lá thứ ba phải trả số tiền 60.000 đồng, nếu vòng cuối cùng bị lấy lá bài thì phải trả số tiền 80.000 đồng), nếu không lấy lá bài đó làm phỏm thì người chơi sẽ bốc 01 lá bài từ số bài dư úp ở trên bàn. Sau khi lấy lá bài hoặc bốc lá bài người chơi sẽ phải đánh ra 01 lá bài, cứ tiếp tục như vậy cho đến khi hết số bài dư trên bàn hoặc ván bài có thể dừng lại giữa chừng nếu một trong số những người chơi ù thì những người còn lại phải trả cho người ù mỗi người 100.000 đồng (trường hợp ù tròn là 200.000 đồng), nếu không có ai ù thì khi ván bài kết thúc, những ai có phỏm sẽ hạ phỏm và tính điểm những quân bài còn lại, ai không có phỏm thì gọi là cháy bài. Khi tính điểm thì ai có điểm thấp nhất sẽ là người về nhất, người có điểm thấp nhì sẽ chung cho người về nhất số tiền 20.000 đồng, người có điểm thấp ba sẽ chung cho người về nhất số tiền 40.000 đồng, người có điểm cao nhất sẽ chung cho người về nhất số tiền 60.000 đồng. Ngoài ra, trong quá trình đánh bài phỏm, tùy theo từng ván bài mà M, A, Đ và H còn có các hình thức cá cược khác nhau. M, A, Đ và H đánh bạc đến 18 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an phát hiện M biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật, gồm:

Dưới bàn tại vị trí ngồi của Võ Văn H số tiền 100.000 đồng và trên người số tiền 180.000 đồng;

Dưới bàn tại vị trí ngồi của Trần Văn A số tiền 140.000 đồng và trên người số tiền 2.100.000 đồng;

Trong ví của Nguyễn Ngọc Đ để trên bàn số tiền 5.650.000 đồng;

Dưới bàn tại vị trí ngồi của Nguyễn Văn M số tiền 260.000 đồng và trên người số tiền 5.300.000 đồng.

04 chiếc ghế màu đỏ, dạng ghế dựa và 01 miếng ván nhựa, bên dưới để 04 chiếc ghế màu đỏ, dạng ghế vuông, không có chỗ dựa.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A23 màu đen của Trần Văn A và 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A23 màu xám của Nguyễn Ngọc Đ để phục vụ công tác điều tra.

Quá trình điều tra, xác định số tiền đem theo và sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau:

Trước khi tham gia đánh bạc, Võ Văn H có số tiền 500.000 đồng, H sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt, H thua số tiền 220.000 đồng, còn 280.000 đồng đã bị Cơ quan Công an thu giữ.

Trước khi tham gia đánh bạc, Trần Văn A có số tiền 1.820.000 đồng, A sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt, A thắng số tiền 420.000 đồng, tất cả số tiền này là 2.240.000 đồng đã bị Cơ quan Công an thu giữ.

Trước khi tham gia đánh bạc, Nguyễn Văn M có số tiền 5.760.000 đồng, M sử dụng số tiền 2.760.000 đồng vào mục đích đánh bạc, còn 3.000.000 đồng M để mua thuốc diệt cỏ và thuốc điều trị bệnh. Khi bị bắt, M thua số tiền 200.000 đồng, số tiền còn lại Cơ quan Công an đã thu giữ.

Trước khi tham gia đánh bạc, Nguyễn Ngọc Đ có số tiền 5.650.000 đồng, Đ sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt, Đ không thắng, không thua, số tiền này đã bị Cơ quan Công an thu giữ.

Như vậy, tổng số tiền M, A, Đ và H sử dụng vào việc đánh bạc là 10.730.000 đồng.

Về vật chứng:

Đối với số tiền 3.000.000 đồng thu giữ trên người của M không liên quan đến vụ án, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Gia Mập đã trả lại cho M.

Đối với số tiền 10.730.000 đồng thu giữ của A, Đ, H, M trong quá trình bắt quả tang.

Đối với 02 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng là công cụ mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc; 04 chiếc ghế màu đỏ, dạng ghế dựa và 01 miếng ván nhựa, bên dưới để 04 chiếc ghế màu đỏ, dạng ghế vuông, không có chỗ dựa là của H.

Đối với điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A23 màu đen của A và điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A23 màu xám của Đ đã sử dụng làm phương tiện liên lạc để đánh bạc.

Tại Bản cáo trạng số 15/CTr-VKSBGM ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố các bị cáo A, H, Đ, M về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ Luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt chính:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo A từ 18 – 24 tháng cải tạo không giam giữ.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo H từ 18 – 24 tháng cải tạo không giam giữ.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Đ từ 18 – 24 tháng cải tạo không giam giữ.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo M từ 15 – 18 tháng cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự

Xử phạt đối với các bị cáo Đ, M, A mỗi bị cáo từ 15000.000 – 20.000.000 đồng; xử phạt bị cáo H từ 10.000.000 – 15.000.000 đồng.

Ngoài ra, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù gia Mập còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng, cụ thể là:

Đối với số tiền 3.000.000 đồng thu giữ trên người của M không liên quan đến vụ án, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Gia Mập đã trả lại cho M nên không đề cập xử lý.

Đối với số tiền 10.730.000 đồng thu giữ của A, Đ, H, M trong quá trình bắt quả tang, đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 02 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng; 04 chiếc ghế màu đỏ, dạng ghế dựa và 01 miếng ván nhựa, bên dưới để 04 chiếc ghế màu đỏ, dạng ghế vuông, không có chỗ dựa là của bị cáo H đã sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A23 màu đen của A và điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A23 màu xám của Đ đã sử dụng làm phương tiện liên lạc để đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 15/CTr-VKSBGM ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã truy tố.

[2.1] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa, thấy phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản thu giữ tài sản, vật chứng vụ án, Kết luận điều tra cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Thấy phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm và phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nhằm mục đích thắng thua bằng tiền, nên khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20 tháng 12 năm 2024, các bị cáo Đ, H, M và A đã thực hiện hành vi đánh bài “phỏm” thắng thua bằng tiền tại nhà của bị cáo H ở thôn KK, xã PN, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 10.730.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự 2015.

[2.2] Do đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội mà không có sự bàn bạc từ trước. Chính bị cáo A là người khởi xướng rủ rê, bị cáo H là người chuẩn bị phương tiện, địa điểm, còn các bị cáo Đ, M là người tham gia thực hành đánh bạc bằng hình thức đánh bài “phỏm”.

Trước khi tham gia đánh bạc, bị cáo H có số tiền 500.000 đồng, H sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt, H thua số tiền 220.000 đồng, còn 280.000 đồng đã bị Cơ quan Công an thu giữ.

Trước khi tham gia đánh bạc, bị cáo A có số tiền 1.820.000 đồng, A sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt, A thắng số tiền 420.000 đồng, tất cả số tiền này là 2.240.000 đồng đã bị Cơ quan Công an thu giữ.

Trước khi tham gia đánh bạc, bị cáo M có số tiền 5.760.000 đồng, M sử dụng số tiền 2.760.000 đồng vào mục đích đánh bạc, còn 3.000.000 đồng M để mua thuốc diệt cỏ và thuốc điều trị bệnh. Khi bị bắt, M thua số tiền 200.000 đồng, số tiền còn lại Cơ quan Công an đã thu giữ.

Trước khi tham gia đánh bạc, bị cáo Đ có số tiền 5.650.000 đồng, Đ sử dụng hết số tiền này vào mục đích đánh bạc. Khi bị bắt, Đ không thắng, không thua, số tiền này đã bị Cơ quan Công an thu giữ.

Như vậy, tổng số tiền mà các bị cáo M, A, Đ và H sử dụng vào việc đánh bạc là 10.730.000 đồng.

Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, trong quá trình thực hiện tội phạm, các bị cáo hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Mặc dù biết rõ việc “Đánh bạc” là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, muốn có tiền một cách nhanh chóng mà các bị cáo đã thực hiện. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng đến nếp sống văn minh của khu dân cư. Hành vi đó còn là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm chiếm đoạt tài sản để có tiền đánh bạc.

Trong vụ án này, mặc dù các bị cáo A, Đ, H không có tiền án, tiền sự nhưng các bị cáo là người có nhân thân xấu. Cụ thể là, ngày 19 tháng 9 năm 2022, bị cáo A bị Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” (Bản án số: 45/2022/HSST) đã xóa án tích; ngày 06 tháng 8 năm 2013, bị cáo H bị Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” (Bản án số: 105/2013/HSST) đã xóa án tích; Ngày 06 tháng 8 năm 2013, bị cáo Đ bị Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc” (Bản án số: 105/2013/HSST) đã xóa án tích, nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho mình mà lần này các bị cáo tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Vì vậy tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo A, Đ, H, M về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, cần xử các bị cáo một mức án nghiêm nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo A, Đ, H đã thành khẩn khai báo; không có tiền án, tiền sự; riêng bị cáo M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.

[3] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo có thu nhập ổn định nên cần áp dụng.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 3.000.000 đồng thu giữ trên người của bị cáo M không liên quan đến vụ án, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bù Gia Mập đã trả lại cho bị cáo M nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề để xử lý.

Đối với số tiền 10.730.000 đồng thu giữ của các bị cáo A, Đ, H, M trong quá trình bắt quả tang, đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 02 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng; 04 chiếc ghế màu đỏ, dạng ghế dựa và 01 miếng ván nhựa, bên dưới để 04 chiếc ghế màu đỏ, dạng ghế vuông, không có chỗ dựa là của bị cáo H đã sử dụng để đánh bạc nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A23 màu đen của bị cáo A và điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A23 màu xám của bị cáo Đ đã sử dụng làm phương tiện liên lạc để đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[5] Đối với phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn A (tên gọi khác: Không); Nguyễn Ngọc Đ (tên gọi khác: Không); Võ Văn H (tên gọi khác: Không); Nguyễn Văn M (tên gọi khác: Không) phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên xử hình phạt chính đối với bị cáo Trần Văn A 01 (một) năm 08 (tám) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ 20 ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 09 tháng 01 năm 2025, được quy đổi thành 60 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Bản án và Quyết định thi hành án.

Tuyên giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Phú Nghĩa, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Phú Nghĩa trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên xử hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Đ 02 (hai) năm cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ 20 ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 09 tháng 01 năm 2025 và được quy đổi thành 60 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ

chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Bản án và Quyết định thi hành án.

Tuyên giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Phú Nghĩa, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Phú Nghĩa trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên xử hình phạt chính đối với bị cáo Võ Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ 20 ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 09 tháng 01 năm 2025 và được quy đổi thành 60 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Bản án và Quyết định thi hành án.

Tuyên giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Phú Nghĩa, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Phú Nghĩa trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; 50; 58; 36 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên xử hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Văn M 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ 06 ngày bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20 tháng 12 năm 2024 đến ngày 26 tháng 12 năm 2024 và được quy đổi thành 18 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không giam giữ được tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo nhận được Bản án và Quyết định thi hành án.

Tuyên giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Phú Nghĩa, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Phú Nghĩa trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt các bị cáo Trần Văn A; Nguyễn Ngọc Đ; Nguyễn Văn M, mỗi bị cáo số tiền là 15.000.000 (mười lăm triệu đồng); bị cáo Võ Văn H số tiền là 10.000.000 (mười triệu) đồng.

3. Về vật chứng của vụ án:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với số tiền 10.730.000 đồng.

Tuyên tịch thu tiêu hủy đối với 02 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng; 04 chiếc ghế màu đỏ, dạng ghế dựa và 01 miếng ván nhựa, bên dưới để 04 chiếc ghế màu đỏ, dạng ghế vuông, không có chỗ dựa của bị cáo Võ Văn H.

Tuyên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A23 màu đen của bị cáo Trần Văn A và điện thoại di động hiệu Sam Sung Galaxy A23 màu xám của bị cáo Nguyễn Ngọc Đ.

(Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0008939, ngày 26 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập).

4. Về án phí HSST:

Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Các bị cáo Trần Văn A; Nguyễn Ngọc Đ; Võ Văn H; Nguyễn Văn M, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước (1);
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Bình Phước (2)
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập (1);
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập (01)
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Bù Gia Mập (01);
  • - Ủy ban nhân dân xã PN (01);
  • - Người tham gia tố tụng (05);
  • - Lưu hồ sơ; Văn thư (02);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

VĂN PHÚ VINH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự sơ thẩm (đánh bạc)

  • Số bản án: 19/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Thọ và đồng phạm phạm tội "đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger