Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27/3/2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Văn Út;
  2. Ông Nguyễn Văn Kim.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên tòa: Ông Phan Trọng Thế – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 350/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Võ Thị Ngọc C, sinh năm: 1997;

Địa chỉ: F, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: anh Nguyễn Chí L, sinh năm: 1995;

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

(Chị C, anh L có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 19 tháng 7 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị Ngọc C trình bày:

Chị C và anh L do tự tìm hiểu và tự nguyện kết hôn vào năm 2019. Vợ chồng chị đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre vào năm 2019. Sau khi kết hôn anh chị sống tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Chị C, anh L sống hạnh phúc một thời gian đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường hay cãi vã, anh L đã bỏ đi từ cuối năm 2022 đến nay không về nhà. Khi xảy ra mâu thuẫn gia đình hai bên biết và đã khuyên nhủ để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Anh chị cũng tìm cách tháo gỡ mâu thuẫn nhưng không tháo gỡ được. Hiện nay, chị C đang sống và làm việc tại khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương còn anh L vẫn sống ở nhà anh L tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Trong thời gian ly thân cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống không ai biết đến ai. Từ cuối năm 2022 đến nay anh L không về nhà, không đến thăm và cũng không gọi điện hỏi thăm vợ con. Từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đến nay thỉnh thoảng anh L có gọi điện thăm con nhưng không hỏi thăm, quan tâm đến chị C. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn của vợ chồng chị chưa được tháo gỡ. Nay, chị C xác định tình cảm không còn, anh chị không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

Về con chung: cợ chồng chị có 02 con chung là Nguyễn Chí T, sinh ngày 27/8/2019 và Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 17/7/2022. Hiện cháu T và A đang sống với chị C. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Trong đơn khởi kiện chị C ghi tài sản chung tự thỏa thuận là không chính xác, do nhờ người khác đánh máy dùm đơn khởi kiện họ đánh máy nhầm.

Nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị C không yêu cầu anh L cấp dưỡng cho chị sau khi ly hôn.

Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Chí L trình bày:

Những thông tin về hôn nhân, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn, thời gian ly thân, tình trạng hôn nhân của anh chị như chị C trình bày trên đây là đúng. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh L, chị C không tìm cách tháo gỡ; gia đình hai bên biết vợ chồng anh bất hòa nhưng không tổ chức hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Anh chị ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Trong thời gian ly thân, cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống không ai biết đến ai. Từ cuối năm 2022 đến nay, anh L không về nhà thăm vợ con. Đến nay, anh vẫn còn tình cảm với chị C nên đối với yêu cầu xin ly hôn của chị C, anh L không đồng ý. Về tình cảm của chị C dành cho anh theo anh là không còn nhưng vẫn còn khả năng hàn gắn.

Về con chung: anh L, chị C có 02 con chung là Nguyễn Chí T, sinh ngày 27/8/2019 và Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 17/7/2022. Hiện 02 con đang sống với chị C. Trường hợp Toà án giải quyết cho anh chị ly hôn, anh L đồng ý cho chị C tiếp tục nuôi con 02 con. Chị C không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con anh L đồng ý.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Anh L1 không yêu cầu chị C cấp dưỡng cho anh sau khi ly hôn

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị:

Về thủ tục thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các Điều 21, 28, 35, 39 của Bộ Luật TTDS 2015; Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật HNGĐ 2014:

  • - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Võ Thị Ngọc C đối với anh Nguyễn Chí L.
  • - Về con chung: giao chị C được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung; ghi nhận chị C không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về cấp dưỡng giữa vợ chồng: không xem xét.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: ngày 19/7/2024, chị Võ Thị Ngọc C khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Chí L. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị C, bị đơn anh L có yêu cầu giải quyết vắng mặt Tòa án xét xử vắng mặt anh chị là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Đối với yêu cầu ly hôn của chị C:

Chị C, anh L tự nguyện kết hôn vào năm 2019 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, anh chị được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/6/2019. Chứng cứ này là có cơ sở nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi cưới, anh chị sống hạnh phúc được một thời gian nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường hay cãi vã, anh L đã bỏ đi từ cuối năm 2022 đến nay không về nhà. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh chị đã tìm cách tháo gỡ. Gia đình hai bên biết anh chị bất hòa và tổ chức hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Chị C, anh L ly thân sống mỗi người một nơi. Trong thời gian ly thân, cả hai không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai người nấy sống không ai biết đến ai. Đến nay, mâu thuẫn vợ chồng không được tháo gỡ; quan hệ hôn nhân vợ chồng chị C không có cải thiện, anh chị vẫn còn ly thân. Chị C xác định không còn tình cảm vợ chồng nên xin ly hôn với anh L. Đối với yêu cầu của chị C, anh L không đồng ý vì còn tình cảm với chị C. Tình cảm chị C đối với anh không còn nhưng vẫn còn khả năng hàn gắn. Tại Biên bản hòa giải ngày 28/02/2025, chị C vẫn giữ yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L. Anh L1 xác định vợ chồng anh vẫn còn khả năng hàn gắn nhưng không có kế hoạch để tháo gỡ mâu thuẫn. Từ các căn cứ vừa nêu có cơ sở khẳng định, tình trạng của vợ chồng anh L1, chị C đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần chấp nhận yêu cầu của chị C là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về nuôi con chung: anh L1, chị C có 02 con chung là Nguyễn Chí T, sinh ngày 27/8/2019 và Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 17/7/2022. Hiện nay, hai con chung đang sống với chị C. Khi ly hôn, anh L1 đồng ý cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung là Nguyễn Chí T và Nguyễn Thị Kim A nên ghi nhận. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung sau này, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con.

[4] Về cấp dưỡng: chị C không yêu cầu anh L1 cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau nên ghi nhận.

[5] Về chia tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị C, anh L1 không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là có căn cứ nên được chấp nhận.

[6] Về án phí: chị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Ngọc C xin ly hôn đối với anh Nguyễn Chí L;

  • * Về hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Võ Thị Ngọc C với anh Nguyễn Chí L.
  • * Về nuôi con chung: chị Võ Thị Ngọc C được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 (hai) con chung là Nguyễn Chí T, sinh ngày 27/8/2019 và Nguyễn Thị Kim A, sinh ngày 17/7/2022.

Ghi nhận chị Võ Thị Ngọc C không yêu cầu anh Nguyễn Chí L cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Chí L được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

* Về chia tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Võ Thị Ngọc C với anh Nguyễn Chí L không yêu cầu cấp dưỡng cho nhau sau khi ly hôn.

2. Về án phí: chị Võ Thị Ngọc C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004643 ngày 11/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - UBND xã Tân Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HNGĐ-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 19/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger