TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/HS-ST
Ngày 25-3-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Giang
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lê Xuân Hải
- Ông Nguyễn Văn Chuyết
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký viên TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuần - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở, TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Quang C, sinh năm 1991
Nơi ĐKHKTT: Xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh: Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1972; con bà Bùi Thị Bích M, sinh năm 1973; Vợ: Trần Thị T1, sinh năm 1993; Có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 15/8/2019, Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xử phạt 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/9/2024, chuyển tạm giam từ ngày 29/9/2024 đến nay tại Trại tạm giam công an tỉnh N. (Có mặt)
* Người làm chứng:
- Anh Bùi Xuân B, sinh năm 1983 - Vắng mặt
- Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 2005 - Vắng mặt
- Anh Ngô Bá D, sinh năm 1991 - Vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị Bích M1, sinh năm 1973 - Vắng mặt
- Chị Trần Thị T1, sinh năm 1993 - Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 9/2024, Nguyễn Quang C mua 01 gói ma túy đá với giá 1.000.000 đồng của một người đàn ông không quen biết tại thành phố Hà Nội (C không rõ tên, địa chỉ cụ thể) rồi đem về cất giấu tại lỗ thông gió cửa ra vào của phòng ngủ phía đông trên tầng 2 nhà bà Bùi Thị Bích M (là mẹ đẻ C) mục đích để khi có nhu cầu sẽ lấy sử dụng cho bản thân. Ngày 04/9/2024, S đến nhà Chung chơi và ở tại nhà bà M. Ngày 19/9/2024, C nảy sinh ý định rủ B, S đến nhà sử dụng ma túy cùng mình. Khoảng 19 giờ 30 cùng ngày, C nhắn tin qua ứng dụng Zalo rủ B đến nhà bà M để sử dụng ma túy, B đồng ý và hẹn tý xong việc sẽ đến. Tối ngày 19/9/2024, C cùng S, bà M, Trần Thị T1 (vợ C), Ngô Bá D (bạn C) và Nguyễn Thị L (vợ D) ăn cơm tại nhà bà M. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, mọi người ra về còn C, S và D ngồi uống nước tại phòng khách tầng 1. C nói với S “Anh sẽ lên chuẩn bị trước”, ý rủ S sử dụng ma túy rồi C một mình đi lên tầng hai lấy gói ma tuý đá cất giấu ở lỗ thông gió cửa ra vào phòng ngủ phía đông mang sang phòng ngủ phía tây tầng hai và lấy dưới gầm giường phòng ngủ ra 01 nắp hộp giấy màu xanh bên trong có 01 chai nhựa và 01 đoạn ống hút nhựa, 01 bật khò gắn bình ga, 05 bật lửa ga và 01 nắp vỏ điện thoại chứa 01 ống thuỷ tinh hình chữ U, đầu ống dạng tròn hình phễu rồi ngồi xuống nền phòng gắn ống hút nhựa và ống thuỷ tinh vào lỗ ở nắp của chai nhựa để làm thành cóng (là dụng cụ sử dụng ma túy đá), tiếp đó C lấy trong người ra tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng cuộn lại thành dạng ống xúc ma túy đá bỏ vào trong đầu phễu thủy tinh của cóng rồi gói số ma túy còn lại, cất giấu tại vị trí cũ. Sau đó, D cũng đi lên phòng ngủ của C nhưng chỉ nằm ở giường xem điện thoại. C ngồi dưới nền phòng cầm bật lửa khò đốt bên dưới phễu thuỷ tinh phần có chứa ma túy để ma tuý chảy thành dạng nước và bốc khói (gọi là nấu) mục đích để tí S, B đến có thể sử dụng luôn. Một lúc sau S đi lên phòng, C đóng cửa phòng lại và bảo S sử dụng ma túy, đồng thời lấy bật lửa đốt dưới phễu thủy tinh cho ma túy đá bốc thành khói. S đồng ý cầm ống hút nhựa cho vào miệng hút khói ma túy đá vào cơ thể. Sau khi S sử dụng thì C tiếp tục bật lửa khò bên dưới
phễu và cầm ống hút nhựa sử dụng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, B đi đến nhà bà M thấy cửa cổng đóng nên gọi cửa thì C bảo S xuống mở cửa cho B (đây là lần đầu S và B gặp nhau, S không biết B đến nhà Chung để làm gì). B lên phòng nói với mọi người đang bị đau chân thì C nói “Anh làm khói cho đỡ đau chân”, ý bảo B sử dụng ma túy đồng thời lấy bật lửa khò bên dưới phễu thì B đồng ý rồi ngồi xuống cầm ống hút nhựa cho vào miệng hút ma túy vào cơ thể. Sau đó C, B, S thay nhau sử dụng ma tuý đá, quá trình sử dụng C đều bật lửa khò để ma túy đá nóng chảy và bốc khói qua ống thuỷ tinh vào trong cóng. Sau khi sử dụng một lúc, cảm thấy đã đủ lượng ma tuý cần dùng nên S, B nói với C không sử dụng ma túy nữa và ngồi bấm điện thoại, D vẫn nằm trên giường xem điện thoại, không sử dụng ma túy cùng còn C tiếp tục sử dụng ma túy. Đến khoảng 00 giờ 40 phút ngày 20/9/2024 bị tổ công tác Công an huyện T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ:
- Thu giữ tại phòng ngủ phía tây trên tầng 2: 01 cóng bằng hệ thống chai nhựa bên trong có chứa dung dịch không màu, nắp nhựa màu đen có gắn 01 ống nhựa cứng màu trắng kính thước 0,5x18cm, một đầu gắn với ống nhựa mềm màu trắng hồng đường kính 0,5cm dài 13cm đầu còn lại xuyên qua nắp chai nhựa và 01 đường ống bằng thủy tinh được đấu nối qua nắp chai, một đầu ống chìm phía trong dung dịch, đầu còn lại nằm phía ngoài nắp chai, được uốn cong hình chữ U, phần đầu ống gắn 01 phễu thủy tinh hình cầu, đường kính 02cm, có miệng phễu hướng lên trên, phần đáy phễu bám dính chất màu nâu. 04 bật lửa ga màu đỏ, 01 khò ga gắn với 01 bình ga mini màu xanh vàng; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn thành hình ống là dụng cụ C, S, B dùng để sử dụng ma túy; 01 nắp hộp giấy màu xanh in chữ ROLEX, 01 nắp vỏ hộp điện thoại bằng bìa cattong cứng màu trắng, 01 thẻ VISA số P02810417 mang tên Nguyễn Văn S và 06 điện thoại của các đối tượng. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ các đồ vật tài sản theo quy định; chiếc cóng được niêm phong ký hiệu C.
- Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Quang C tự nguyện giao nộp 01 gói được bọc bằng ba lớp giấy bạc màu trắng, đến một lớp giấy vệ sinh màu trắng, tiếp đến là lớp nilon màu trắng chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong theo quy định, ký hiệu Đ.
- Tiến hành thu mẫu nước tiểu của C, S, Bắc đựng vào 03 chai nhựa niêm phong ký hiệu lần lượt là NT1, NT2, NT3.
Kết luận giám định số 1632/KL-KTHS ngày 26/9/2024 của phòng K Công an tỉnh N xác định:
- Mẫu bám dính màu nâu trong đáy của 01 (một) phễu thủy tinh hình cầu đường kính 02 cm, được niêm phong ký hiệu C gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine (ma túy đá). Khối lượng mẫu C: 0,089 gam.
- Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong 01 (một) gói nilon màu trắng được gói bên ngoài bằng 01 lớp giấy nilon màu trắng, 01 lớp giấy vệ sinh màu trắng và 03 lớp giấy bạc màu trắng, được niêm phong ký hiệu Đ gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Methamphetamine (ma túy đá). Khối lượng mẫu Đ: 1,800 gam.
- Đều có tìm thấy thành phần chất Methamphetamine trong 03 (ba) mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu NT1, NT2 và NT3 gửi giám định (Methamphetamine là chất ma túy thuộc Danh mục chất ma túy, STT: 247, Danh mục: IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ)
Ngoài ra đấu tranh mở rộng làm rõ trong thời gian Nguyễn Văn S ở Campuchia đã sử dụng mạng xã hội Line làm quen với những phụ nữ Việt đang sinh sống, làm việc tại Mỹ và Canada, S giới thiệu tên là A, sinh năm 1982, là Việt kiều Mỹ và đang là giám đốc kinh doanh về vật liệu xây dựng tại thành phố X, B, Mỹ. S lấy lòng tin của họ bằng cách hứa hẹn yêu đương, sau khi về Việt Nam sẽ tổ chức làm đám cưới, sau đó lấy lý do mẹ ở Việt Nam đang bị bệnh nặng, cần chi phí khám chữa bệnh gấp mà tiền hiện đang dồn vào các dự án đầu tư chưa rút ra được nên mượn tiền và hứa sẽ trả trong thời gian sớm nhất để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của những người phụ nữ này. Trong thời gian ở xã T, huyện T, tỉnh Nam Định, S đã chiếm đoạt tiền của 03 phụ nữ với tổng số tiền là khoảng 387.665.000 đồng. Ngày 24/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T chuyển hồ sơ, tài liệu cùng vật chứng liên quan đến phòng PC02, Công an tỉnh N xử lý theo quy định. Ngày 28/9/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Đánh bạc”.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản Cáo trạng. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Quang C từ
07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Quang C phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về xử lý vật chứng và áp dụng các biện pháp tư pháp khác: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị HĐXX xử lý theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng là anh Bùi Xuân B, anh Nguyễn Văn S, anh Ngô Bá D, bà Nguyễn Thị Bích M1 (không có lý do). Xét thấy, những người làm chứng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc anh B, anh S, anh D, bà M1 vắng mặt tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh Bùi Xuân B, anh Nguyễn Văn S, anh Ngô Bá D, bà Nguyễn Thị Bích M1 theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Quang C tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/9/2024, Nguyễn Quang C đã rủ rê Nguyễn Văn S, Bùi
Xuân B và tự bản thân chuẩn bị ma túy, dụng cụ, bố trí địa điểm để các đối tượng cùng sử dụng trái phép ma túy Methamphetamine tại nhà của bà Bùi Thị Bích M ở xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (mẹ đẻ C) thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Quang C tại xóm T, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định thu giữ 1,800 gam Methamphetamine: C khai cất giấu mục đích sử dụng cho bản thân. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Nguyễn Quang C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về các chất ma túy; ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe con người mà còn khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khó khăn, là nguyên nhân phát sinh các loại tệ nạn xã hội và gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người nghiện ma túy, mua ma túy về cất giấu để sử dụng trái phép chất ma túy, còn có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng ma túy cho 02 người sử dụng thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực nhận thức điều khiển hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo Điều 52 BLHS.
Tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo có thời gian phục vụ trong quân ngũ, HĐXX xem xét giảm nhẹ 1 phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để vừa thể hiện tính nhân đạo, công bằng của pháp luật, vừa đảm bảo tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo.
[6] Trên cơ sở xem xét cân nhắc giữa các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đối chiếu với các quy định hướng dẫn thi hành BLHS, Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn nhận hành vi phạm tội được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, và một tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS nên cần áp dụng cho bị cáo mức hình phạt khởi điểm trong khung hình phạt của cả hai tội cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo để lao động, cải tạo thành người có ích cho xã hội, đáp ứng công cuộc đấu tranh phòng chống loại tội phạm về ma tuý mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định. Vì vậy, HĐXX thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần:
- Tịch thu tiêu huỷ đối với 01 túi niêm phong mặt trước có ghi số 1632/KL-KTHS, (C+Đ) và 01 túi niêm phong mặt trước có ghi số 1632/KL-KTHS, (NT1+NT2+NT3) của Phòng K - Công an tỉnh N; 04 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng; 01 khò ga gắn với 01 bình ga mini màu xanh; 01 nắp hộp giấy màu xanh in chữ ROLEX; 01 nắp vỏ hộp điện thoại bằng bìa cattong cứng màu trắng;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, số IMEL: 350814298472382; 350814298377433; số S: H4YKJ7HHG.
[9] Các vấn đề khác:
- Đối với 01 thẻ VISA mang tên Nguyễn Văn S là giấy tờ cá nhân của S, không liên quan đến việc sử dụng ma túy. Cơ quan điều tra đã trả lại cho S để quản lý.
- Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax số máy: MU793VNIA, số Seri: LF7Q34W3FP và chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax số máy: NWGJ2LL/A, số Seri: HODHLONWN70G thu giữ của Nguyễn Văn S không liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma tuý ngày 20/9/2024. Theo S khai là phương tiện liên lạc đã sử dụng để chiếm đoạt tài sản của người phụ nữ có lên “Lynn N” ở Mỹ. Cơ quan điều tra đã bàn giao cho Phòng PC02, Công an tỉnh N để giải quyết theo thẩm quyền.
- Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme thu giữ của C và điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A32, số IMEL: 861578056092953 thu giữ của D. Đây là tài sản cá nhân của C, D và không sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi xác minh cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Trần Thị T1 (là vợ C) và D để quản lý, sử dụng theo đề nghị của C, D.
- Đối với chiếc điện thoại OPPO F11, số IMEL: 863980045055059 thu giữ của B là tài sản cá nhân của anh Vũ Văn M2, sinh năm 1961, trú tại xóm T, xã T. Anh M2 cho B mượn để liên lạc, không biết việc B đến nhà Chung sử dụng ma tuý. Sau khi xác minh, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh M2 để quản lý theo đề nghị của anh M2, B.
Xét thấy Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện T đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo là người bị kết án nên phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt Nguyễn Quang C 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Quang C phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 08 (tám) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 9 năm 2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu huỷ đối với 01 túi niêm phong mặt trước có ghi số 1632/KL-KTHS, (C+Đ) và 01 túi niêm phong mặt trước có ghi số 1632/KL-KTHS, (NT1+NT2+NT3) của Phòng K - Công an tỉnh N; 04 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng; 01 khò ga gắn với 01 bình ga mini màu xanh; 01 nắp hộp giấy màu xanh in chữ ROLEX; 01 nắp vỏ hộp điện thoại bằng bìa cattong cứng màu trắng;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, số IMEL: 350814298472382; 350814298377433; số S: H4YKJ7HHG.
(Chi tiết trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản kê biên số 41/THA ngày 28/02/2025 giữa CQCSĐT Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định và ủy nhiệm chi lập ngày 14/02/2025 của Kho bạc nhà nước huyện T).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Quang C phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo Nguyễn Quang C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoàng Giang |
Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 19/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang C - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy
