|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 19/2025/HS-ST Ngày 25/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đăng Thiện;
Ông Nguyễn Văn Sâm;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025.
Đối với bị cáo: Phạm Văn H, sinh ngày 25/9/1999, tại xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn E, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn K và bà Nguyễn Thị M; Bị cáo có vợ là Trần Thị D, sinh năm 2002; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con đầu; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
- Bị hại: Ông Bùi Ngọc V, sinh năm 1957, địa chỉ: Thôn F, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Đinh Thị N, sinh năm 1962, địa chỉ: Thôn F, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Chị Bùi Minh N1, sinh năm 1981, địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Chị Bùi Thị D1, sinh năm 1984, địa chỉ: Khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Chị Bùi Thị L, sinh năm 1987, địa chỉ: Tổ E, T, T, Đà Nẵng. Vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà N, chị N1, chị L: Chị Bùi Thị D1, sinh năm 1984, địa chỉ: Khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt
- Người làm chứng:
- Phạm Văn K1, sinh năm 1978, địa chỉ: Thôn E, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Phạm Văn T, sinh năm 1984, địa chỉ: Thôn A, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 24/11/2024, Phạm Văn H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 35N-6836 từ xã Q, huyện T đi huyện Y. Trên xe có ông Phạm Văn K (sinh năm 1978, trú tại thôn E, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; là bố đẻ của H) ngồi ở ghế phụ. Xe ô tô không chở theo hàng hoá gì. Khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày, H điều khiển xe ô tô di chuyển trên đường liên xã, đoạn qua thôn A, xã Q theo hướng từ xã Q đi huyện Y. Do đoạn đường qua khu vực cánh đồng mía, thường xuyên vắng người nên H chủ quan điều khiển xe ô tô đi giữa đường, H không quan sát phía trước đường đi của mình mà nhìn qua gương chiếu hậu để quan sát phía sau. Đến khi nhìn về trước thì H giật mình phát hiện thấy ông Bùi Ngọc V (sinh năm 1957, trú tại thôn F, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36L6-5628 từ trong đường dân sinh bên trái (so với hướng di chuyển của xe ô tô) đi ra, di chuyển ngược chiều và chỉ còn cách xe ô tô khoảng 5m. Huấn giật mình, đạp phanh và lúng túng đánh lái sang bên trái, lấn vào phần đường của xe mô tô dẫn đến đầu xe ô tô đâm thẳng vào xe mô tô. Sau va chạm, xe mô tô và ông V bị húc văng ngược lại, ngã xuống đường. Ông V được đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện H2 nhưng không còn khả năng cứu chữa nên bệnh viện trả về. Ngày 25/11/2024, ông V tử vong tại nhà.
* Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đường nhựa liên xã Q, huyện T đi xã Y, huyện Y, mặt đường rải nhựa phẳng rộng 4,1m; hướng đường thẳng Đông – Tây, hai bên đường không có lề đường tiếp giáp vệ cỏ. Phía Đ là hướng đường đi xã Y, huyện Y; phía Tây là hướng đường đi tỉnh lộ 518C về phía xã Q; phía Bắc tiếp giáp ruộng dứa và đường đá cấp phối rộng 3,2m.
Lấy mép đường phía Bắc (mép lòng đường bên phải hướng đường từ xã Y đi xã Q) của đường liên xã làm mép đường chuẩn. Ký hiệu là (A). Lấy cột điện ký hiệu “VIETTEL 65VAY” ở vệ cỏ lề đường hướng Bắc làm điểm cố định. Kẻ đường thẳng qua điểm cố định, vuông góc với đường liên xã làm đường thẳng cố định. Ký hiệu là (B).
Ghi nhận dấu vết tại hiện trường:
- - (1): Vết trượt màu đen dạng lốp ô tô được xác định dài 8m, rộng 0,13m theo chiều từ T1 đi Đ, chếch hướng T đi Đông Bắc; đầu vết cách (B) 10,3m về phía Đông, cách (A) 2,1m; đuôi vết cách (A) 1,8m và là vị trí ngay phía sau lốp bánh xe trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 35N-6836.
- - (2): Vết trượt màu đen dạng lốp xe ô tô được xác định dài 6m, rộng 0,13m theo chiều đi Tây đi Đông, chếch hướng T đi Đ; đầu vết cách đầu vết (1) 1,1m về phía Đông, cách (A) 0,7m; đuôi vết cách (A) 0,4m và là vị trí ngay sau lốp bánh xe trước bên trái xe ô tô biển kiểm soát 35N-6836.
- - (3): Xe ô tô biển kiểm soát 35N-6836 được xác định đầu xe quay hướng Đông, đuôi xe quay hướng Tây. Vị trí bánh xe trước bên phải ngay đầu vết (1). Trục trước bên trái xe cách (A) 0,84; trục sau bên trái xe cách (A) 0,6m.
- - (4): Vết cà trượt không liên tục kích thước dài 4,1m, rộng nhất 0,02m theo chiều T1 đi Đ. Đầu vết cách trục trước bên trái xe ô tô biển soát 35N-6836 0,3m về hướng Đông, cách (A) 1,04m; đuôi vết cách (A) 1m và là điểm tỳ của đầu ngoài bàn để chân trước bên phải xe mô tô biển kiểm soát 36L6-5628.
- - (5): Xe mô tô biển kiểm soát 36L6-5628 có đầu xe quay hướng Tây, chếch Tây Nam; đuôi xe quay hướng Đông Bắc. Xe để ngã bên phải xuống mặt đường. Trục trước xe cách (A) 1,2m; trục sau xe cách (A) 0,95m. Trục trước xe cách trục trước bên trái xe ô tô biển kiểm soát 35N-6836 3,9m về phía Đông.
- - (6): Vị trí vết nghi máu tại hiện trường được xác định nằm tại đường đá cấp phối phía Bắc của đường nhựa liên xã. Vết được xác định kích thước (0,2x0,1)m. Vết cách (A) 1,1m về phía Bắc (phía đường đá cấp phối ra đồng), cách trục sau xe mô tô biển kiểm soát 36L6-5628 0,7m về phía Đông (gióng theo trục vuông góc). (Bút lục: 30-67)
* Kết quả rà soát hệ thống biển báo hiệu đường bộ: Không có biển báo hiệu đường bộ tại khu vực hiện trường.
* Kết quả khám nghiệm phương tiện và giám định dấu vết cơ học:
- Dấu vết trên xe ô tô biển kiểm soát 35N-6836:
- + Mặt trước bên trái ba đờ sốc trước (cách thành xe bên trái 48cm) có vết cà trượt làm mòn xước sơn màu xanh, kích thước 12cm x 10cm, vết có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới, chếch từ phải sang trái, bề mặt vết bám dính chất màu đen (dạng cao su), vết cao so với mặt đất 38cm - 44cm.
- + Mặt trước bên trái ba-đờ-sốc trước, mặt trước bên trái trán xe có vết cà trước làm mòn xước sơn màu xanh, cong vênh kim loại, kích thước 31cm x 78cm, vết có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái, bề mặt vết bám dính chất màu đỏ (dạng sơn), vết cao so với mặt đất 38cm - 110cm.
- + Mặt trước bên trái đầu xe có vết tỳ trượt làm sạch bụi đất, rạn vỡ kính chắn gió trước, kích thước 35cm x 24cm, vết có chiều từ trước về sau, vết cao so với mặt đất 115cm - 140cm. (Bút lục: 98-99)
- Dấu vết trên xe mô tô biển kiểm soát 36L6-5628:
- + M1 và má trái lốp trước, cạnh bên trái vành trước tương ứng hàng chữ "LOAD RANGE" có vết cà trượt làm sạch bụi đất, mòn cao su, kích thước 23cm x 6cm, vết có chiều từ ngoài vào tâm, ngược chiều chuyển động tiến, bề mặt vết bám dính chất màu xanh (dạng sơn).
- + Mặt ngoài bên trái phần trước chắn bùn trước, mặt trước ngoài giảm sóc trước bên trái đến mặt trước bên trái đầu xe có vết cà trượt làm mòn xước sơn màu đỏ, nứt vỡ nhựa, kích thước 85cm x 32cm, vết có chiều từ trước về sau, từ phải sang trái, bề mặt vết bám dính chất màu xanh (dạng sơn), vết cao so với mặt đất 33cm - 102cm.
- + Mặt trước ngoài đầu mút tay phanh, tay nắm bên phải, mặt trước ngoài bàn phanh, giá để chân trước bên phải, mặt ngoài ốp cách nhiệt ống pô có vết cà trượt làm mòn xước kim loại, cao su, vết có chiều từ dưới lên trên, bề mặt vết bám dính đất cát và chất màu trắng (dạng bột đá).
* Ngày 28/11/2024, CQĐT ra Quyết định trưng cầu giám định số 1444/QĐ-ĐTTH, trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh T giám định dấu vết cơ học trên xe mô tô biển kiểm soát 36L6-5628 và ô tô biển kiểm soát 35N-6836 (Bút lục: 97). Tại Kết luận giám định số 09/KL-KTHS ngày 16/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:
- - Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước bên ngoài ba-đờ-sốc trước (cách thành xe bên trái 48 cm) xe ô tô biển kiểm soát 35N-6836 với mặt và má trái lốp trước, cạnh bên trái vành trước (tương ứng hàng chữ “LOAD RANGE”) xe mô tô biển kiểm soát 36L6-5628.
- - Tại thời điểm va chạm, hai phương tiện chuyển động ngược chiều.
- - Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà trượt số (4), được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, trên chiều đường theo hướng từ xã Y, huyện Y đi tỉnh lộ 518C.
- - Không đủ cơ sở xác định tốc độ di chuyển của hai phương tiện thời điểm xảy ra va chạm.
* Ngày 25/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trưng cầu Phòng K2 Công an tỉnh T, giám định pháp y tử thi ông Bùi Ngọc V (Bút lục: 69). Tại Kết luận giám định số 4690/KL-KTHS ngày 11/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận:
- Kết quả khám nghiệm:
- + Các vết sây sát da, bầm tụ máu tại vùng: đầu, mặt, chân trái.
- + Chấn thương sọ não: Tụ, ngấm máu tổ chức dưới da đầu vùng trán, thái dương đỉnh chẩm hai bên và một phần cơ thái dương hai bên; Vỡ xương hộp sọ; Tụ máu dưới màng cứng; Xuất huyết khoang dưới nhện; Phù não.
- Kết luận nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.
* Ngày 03/12/2024, CQĐT ra Quyết định trưng cầu giám định số 1456/QĐ-ĐTTH, T2- Bộ C giám định chất ma túy đối với ông Bùi Ngọc V (Bút lục: 90). Tại Kết luận giám định 9390/KL-KTHS ngày 13/12/2024 của V2 Bộ C kết luận: Không tìm thấy chất ma tuý và sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý trong mẫu máu ghi thu của Bùi Ngọc V gửi giám định.
* Quá trình điều tra, CQĐT đã thu thập 01 file video được trích xuất từ camera của gia đình Đoàn Thị M2 (sinh năm 1986, trú tại thôn A, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) ghi nhận nội dung, diễn biến liên quan đến vụ tai nạn giao thông và ra Quyết định trưng cầu giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 287/KL-KTHS, ngày 06/01/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh T đối với các file video trên, kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 file video gửi giám định. Trích xuất 03 ảnh từ file video trên.
* Ngày 11/12/2024, CQĐT yêu cầu định giá tài sản số 2769/YC-ĐTTH, đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T xác định giá trị hư hỏng của xe ô tô biển kiểm soát 35N-6836 và xe mô tô biển kiểm soát 36L6-5628 (Bút lục: 137). Tại Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐG ngày 17/12/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- - Giá trị phần tài sản bị hư hỏng của xe ô tô biển kiểm soát 35N-6836 là 9.000.000 đồng.
- - Giá trị phần tài sản bị hư hỏng của xe mô tô biển kiểm soát 36L6-5628 là 2.950.000 đồng.
* Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Phạm Văn H tại thời điểm 11 giờ 34 phút ngày 24/11/2024, kết quả: 0.000mg/l. Xét nghiệm các chất gây nghiện qua mẫu nước tiểu của Phạm Văn H, kết quả: Âm tính với các chất gây nghiện.
- Tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Bùi Ngọc V tại thời điểm 11 giờ 43 phút ngày 24/11/2024, kết quả: 0.000mg/l.
- Tiến hành tra cứu giấy phép lái xe của Bùi Ngọc V và Phạm Văn H, kết quả xác định: Bùi Ngọc V có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, được cấp ngày 10/09/2002, ngày hết hạn: không thời hạn; Phạm Văn H có giấy phép lái ô tô hạng B2, được cấp ngày 05/11/2021, có giá trị đến ngày 05/11/2031.
- Tiến hành tra cứu giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô biển kiểm soát 35N-6836, kết quả: Trung tâm Đ1 đã kiểm định và cấp giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường cho phương tiện mang biển kiểm soát 35N-6836 vào ngày 30/9/2024; Nội dung, thông số kỹ thuật ghi trong giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường mà Phạm Văn H xuất trình cho Cơ quan điều tra hoàn toàn trùng khớp với nội dung, thông số ghi trong giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đã được kiểm định tại Trung tâm Đ1.
* Về phần dân sự: Phạm Văn H thỏa thuận bồi thường dân sự cho gia đình bị hại số tiền là 300.000.000 đồng. Trong đó, H đã bồi thường trước 150.000.000 đồng, còn lại sẽ thanh toán vào ngày 25/11/2025. Các bên không có yêu cầu gì khác về phần dân sự.
Cáo trạng số 21/CT-VKS-HS ngày 10/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố bị cáo Phạm Văn H về tội : "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 điều 260; Điểm b, s khoản 1 điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 17 tháng tù đến 19 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 34 tháng đến 38 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra; Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đều phản ánh thống nhất khách quan: Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 24/11/2024, Phạm Văn H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 35N-6836 di chuyển trên đường L, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa hướng từ xã Q đi huyện Y đi không đúng phần đường quy định, không chú ý quan sát phía trước nên khi xe ô tô cách ngã ba giao nhau giữa đường liên xã với đường dân sinh khoảng hơn 5m thì mới phát hiện thấy ông Bùi Ngọc V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36L6-5628 từ trong đường dân sinh ra và di chuyển ngược chiều đến; do khoảng cách gần và làm H giật mình nên đã đạp phanh và đánh lái sang bên trái để tránh, dẫn đến phần đầu bên trái xe ô tô va chạm với xe mô tô, làm xe và ông V bị húc văng ngược lại, đỗ ngã xuống đường. Ông V được đưa đi cấp cứu và điều trị nhưng do thương tích quá nặng nên bệnh viện trả về. Ngày 25/11/2024, ông V tử vong tại nhà do chấn thương sọ não. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 BLHS. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố bị cáo Phạm Văn H là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất của vụ án và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, bị cáo điều khiển xe ô tô tham gia giao thông, không chú ý quan sát vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng, gây thiệt hại về tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Trong tình hình hiện nay tình trạng vi phạm luật giao thông đường bộ đang là mối quan tâm của toàn xã hội, hậu quả của những vi phạm này là rất nghiêm trọng, ảnh hưởng tới trật tự trị an xã hội. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh .
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện bồi thường trước số tiền 150.000.000 đ cho gia đình bị hại, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 điều 51 BLHS.
Từ những nhận xét, đánh giá trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện được chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo trở thành người tuân thủ pháp luật, có ích cho gia đình và xã hội.
[5]. Về phần dân sự: Bị cáo và gia đình bị hại đã thoả thuận với nhau về mức bồi thường là 300.000.000 đ. Bị cáo đã bồi thường được 150.000.000 đ, số tiền 150.000.000 đ còn lại hai bên thoả thuận đến ngày 25/11/2025, bị cáo sẽ thanh toán hết. Tại phiên toà người đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu xem xét về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6]. Về xử lý vật chứng của vụ án: Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về các tình tiết liên quan đến vụ án: Xe ô tô biển kiểm soát 35N-6836 mang tên ông Nguyễn Văn V1 (sinh năm 1957, hiện đã chết; nơi ở trước khi chết: xóm C, xã K, huyện Y, tỉnh Nình Bình). Xe ô tô trên do Phạm Văn H mua lại của bà Lê Thị H1 (sinh năm 1960, trú tại xóm C, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; là vợ ông Nguyễn Văn V1) vào đầu tháng 11/2024 nhưng chưa làm thủ tục sang tên đăng ký; Xe mô tô biển kiểm soát 36L6-5628 mang tên ông Bùi Minh N1 (sinh năm 1981, trú tại khu C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; là con đẻ ông Bùi Ngọc V). Tiến hành tra cứu xác đinh hai phương tiện trên không có thông tin trong cơ sở dữ liệu xe ô tô, xe mô tô vật chứng Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1 điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội : “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thâm.
Giao bị cáo Phạm Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về xử lý vật chứng: Không xem xét.
5. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn H phải nộp 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Công |
Bản án số 19/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 19/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ádfaf
