Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỀN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

-----------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------

Bản án số: 19/2025/DSST

Ngày: 25/3/2025

"V/v tranh hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Quang Trung

Bà Nguyễn Thị Bích Liên

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Loan Anh - thư ký của Tòa án nhân dân huyện

Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Anh Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 94/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp "Hợp đồng vay tài sản", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 12/2025/QĐST-DS ngày 11 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự :

Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần X; Địa chỉ: Tầng H, Văn phòng số L – 01 – 11 + 16, Tòa nhà V; số G L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ chi nhánh: Số H P, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Công ty TNHH MTV quản lý nợ và khai thác tài sản - Ngân hàng thương mại cổ phần X; Địa chỉ: Số B T, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh – Có bà Nguyễn Ngọc Đan T; Địa chỉ: Số H P, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ (có mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1974, bà Nguyễn Thị Thanh K, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ (vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Trần Văn Á – Đoàn Luật sư thành phố C; Địa chỉ: Số A T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thùy L, sinh năm 1992; Địa chỉ: Số L - C, đường số A, khu dân cư N, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện Ngân hàng thương mại cổ phần X trình bày:

Đối với khoản nợ theo hợp đồng tín dụng: Ngày 24/11/2022 Ngân hàng thương mại cổ phần X có cho ông Nguyễn Quốc T1, bà Nguyễn Thị Thanh K vay số tiền 3.400.000.000 đồng, theo hợp đồng tín dụng số LAV 220101078/1003. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số 4.181.120.483 đồng, trong đó nợ gốc là 3.400.000.000 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 25/3/2025 là 781.120.483 đồng.

Đối với khoản nợ thẻ tín dụng: Bị đơn đã ký giấy đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế, theo đó ngân hàng đã cấp 01 thẻ tín dụng Visa Platinum số tài khoản 100310501001880 hạn mức 50.000.000 đồng. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số 145.972.557 đồng, trong đó nợ gốc là 46.455.000 đồng, nợ lãi tạm tính đến ngày 25/3/2025 là 99.517.557 đồng.

Bị đơn không thực hiện việc trả nợ như hai bên đã thỏa thuận. Nên Ngân hàng thương mại cổ phần X khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ gốc lãi là 4.327.093.040 đồng, bị đơn tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng hai bên đã ký kết đến khi trả xong nợ.

Trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ, đề nghị phát mãi tài sản theo hợp đồng thế chấp số 227/2022/EIBCT – KHCN/TCTS ngày 24/11/2022, là quyền sử dụng số CU 517879, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 09946 cấp ngày 13/4/2020, do sở Tài Nguyên và Sở Tài nguyên thành phố C cấp, điều chỉnh sang tên ông T1 ngày 22/11/2022 để Ngân hàng thu hồi nợ.

Bị đơn ông Nguyễn Quốc T1, bà Nguyễn Thị Thanh K trình bày:

Bà K vắng mặt, ông Nguyễn Quốc T1 có nộp tự khai với nội dung như sau: Ông thừa nhận có vay tiền như ngân hàng trình bày và đồng ý bán tài sản để trả nợ nhưng sau đó ông vắng mặt không rõ lý do.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thùy L trình bày:

Bà là người thuê nhà tại phần đất tranh chấp để kinh doanh buôn bán cafe, người đứng ra giao dịch cho thuê là bà Phạm Thị T2, giá thuê là 6.700.000 đồng/tháng, bà có đặt cọc là 20.000.000 đồng, đến tháng 4/2025 là hết hạn hợp đồng thuê, trong thời gian thuê bà không xây dựng gì thêm. Đối với vụ kiện tranh chấp này bà không có ý kiến gì và cũng không có yêu cầu độc lập, bà sẽ tự xử lý hợp đồng thuê với bà T2 và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết

Tại phiên toà, đại diện nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần X vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền vay 4.327.093.040 đồng (trong đó vốn: 3.446.455.000 đồng, lãi tạm tính đến 25/3/2025 là 880.638.040 đồng) và lãi phát sinh cho đến khi cho đến khi bị đơn thanh toán xong nợ. Trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ như hợp đồng đã thỏa thuận thì đề nghị phát mãi tài sản là quyền sử dụng số CU 517879, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 09946 cấp ngày 13/4/2020, do sở Tài Nguyên và Sở Tài nguyên thành phố C cấp, điều chỉnh sang tên ông T1 ngày 22/11/2022 để Ngân hàng thu hồi nợ.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn ông Nguyễn Quốc T1, bà Nguyễn Thị Thanh K nhiều lần đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án theo quy định của Bộ Luật Tố Tụng Dân Sự. Tuy nhiên, bị đơn ông T1, bà K vắng mặt không rõ lý do, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được giữa các bên đương sự. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử công khai theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ phát biểu ý kiến như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật.

Về tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Quốc T1, bà Nguyễn Thị Thanh K đã được Tòa án tiến hành niêm yết, triệu tập hợp lệ theo quy định tuy nhiên bị đơn vẫn vắng nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định.

Về nội dung: Ngân hàng thương mại cổ phần X và bị đơn ông T1, bà K ký hợp đồng tín dụng số số LAV 220101078/1003 ngày 24/11/2022 và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế số tài khoản 100310501001880, thỏa thuận ký hợp đồng trên cở sở tự nguyện, đúng với quy định pháp luật, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền 4.327.093.040 đồng (trong đó vốn: 3.446.455.000 đồng, lãi tạm tính đến 25/3/2025 là 880.638.040 đồng) là có căn cứ nên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ thì đề nghị phát mãi tài sản mà bị đơn đã thế chấp cho ngân hàng thương mại cổ phần X để thu hồi nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần X yêu cầu bị ông Nguyễn Quốc T1, bà Nguyễn Thị Thanh K phải trả nợ gốc và lãi là 4.327.093.040 đồng, theo hợp đồng tín dụng số số LAV 220101078/1003 ngày 16/8/2022 và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế số tài khoản 100310501001880, do đó quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp "hợp đồng vay tài sản" thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Ông Nguyễn Quốc T1, bà Nguyễn Thị Thanh K sinh sống tại địa chỉ: Ấp N, thị trấn P, huyện P, thành phố Cần Thơ. Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết theo quy định, tuy nhiên bị đơn ông T1, bà K và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn là Luật sư Trần Văn Á – Đoàn Luật sư thành phố C vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ngân hàng thương mại cổ phần X và bị đơn ông Nguyễn Quốc T1, bà Nguyễn Thị Thanh K ký hợp đồng tín dụng số số LAV 220101078/1003 ngày 24/11/2022 và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế số tài khoản 100310501001880, hợp đồng được ký trên cở sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, trong quá trình thực hiện bị đơn ông T1, bà K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như các bên đã thỏa thuận. Nên nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần X khởi kiện yêu cầu ông T1, bà K phải trả cho nguyên đơn số tiền vay là 4.327.093.040 đồng (trong đó vốn: 3.446.455.000 đồng, lãi tạm tính đến 25/3/2025 là 880.638.040 đồng) và lãi phát sinh cho đến khi cho đến khi bị đơn thanh toán xong nợ là có căn cứ. Do đó đề nghị của Viện Kiểm S là có cơ sở chấp nhận.

Để đảm bảo cho khoản vay bị đơn đã ký hợp đồng thế chấp số 227/2022/EIBCT – KHCN/TCTS ngày 24/11/2022 với Ngân hàng thương mại cổ phần X, tài sản thế chấp là quyền sử dụng số CU 517879, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 09946 cấp ngày 13/4/2020, do sở Tài Nguyên và Sở Tài nguyên thành phố C cấp, điều chỉnh sang tên ông T1 ngày 22/11/2022.

Quá trình giải quyết nguyên đơn yêu cầu thẩm định đo đạc phần đất tranh chấp theo quy định và theo thực tế sử dụng đất thể hiện như sau: Tại bản trích đo địa chính số 1051/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C, biên bản định giá tài sản ngày 20/8/2024 thì trên đất tranh chấp có 01 căn nhà, bà Phan Thùy L là người thuê nhà tại phần đất tranh chấp để kinh doanh bán cafe, bà L xác định không có yêu cầu độc lập, bà L sẽ tự xử lý hợp đồng với người cho T3.

Căn cứ vào hợp đồng thế chấp số 227/2022/EIBCT – KHCN/TCTS ngày 24/11/2022 giữa nguyên đơn, bị đơn tại Điều 2 mục1, 3 ghi nhận “......tài sản thế chấp bao gồm quyền sử dụng đất.....vật kiến trúc và các quyền phát sinh từ tài sản bảo đảm cũng thuộc tài sản bảo đảm.....”. Nguyên đơn ngân hàng cũng đã thực hiện thủ tục đăng ký thế chấp đúng quy định về đăng ký tài sản bảo đảm. Hợp đồng thế chấp tài sản là do các bên tự nguyện giao kết theo quy định pháp luật. Do đó trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ như đã thỏa thuận thì Ngân hàng có quyền đề nghị phát mãi quyền sử dụng là quyền sử dụng số CU 517879, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 09946 cấp ngày 13/4/2020, do sở Tài Nguyên và Sở Tài nguyên thành phố C cấp, điều chỉnh sang tên ông T1 ngày 22/11/2022 và tài sản khác gắn liền đất để thu hồi nợ.

[4] Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thùy L là người thuê nhà tại phần đất tranh chấp để kinh doanh bán cafe, người đứng ra giao dịch cho thuê là bà Phạm Thị T2, giá thuê là 6.700.000 đồng/tháng, bà có đặt cọc là 20.000.000 đồng, đến tháng 4/2025 là hết hạn hợp đồng thuê, trong thời gian thuê bà không xây dựng gì thêm. Đối với vụ kiện tranh chấp này bà không có ý kiến gì và cũng không có yêu cầu độc lập, bà sẽ tự xử lý hợp đồng thuê với bà T2 và xin vắng mặt trong quá trình giải quyết. Do đó Hội đồng xét xử không xem xem xét, trường hợp một trong các bên đương sự có yêu cầu thì được giải quyết thành vụ kiện khác.

[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:

Yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần X được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, định giá là 9.452.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 9.452.000 đồng (chín triệu bốn trăm năm mươi hai ngàn đồng).

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn ông Nguyễn Quốc T1, bà Nguyễn Thị Thanh K phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần X được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[7] Về quyền kháng cáo của đương sự được thực hiện theo quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 150; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Điều 91; Điều 94; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần X đối với bị đơn ông Nguyễn Quốc T1, bà Nguyễn Thị Thanh K

Buộc ông T1, bà K trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần X số tiền là 4.327.093.040 đồng (bốn tỷ ba trăm hai mươi bảy triệu chín mươi ba nghìn bốn mươi đồng). Trong đó nợ gốc là 3.446.455.000 đồng, lãi tạm tính đến 25/3/2025 là 880.638.040 đồng khi án có hiệu lực.

Kể từ ngày 26/3/2025 ông T1, bà K còn phải trả lãi phát sinh của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.

Trường hợp ông Nguyễn Quốc T1, bà Nguyễn Thị Thanh K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần X thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất diện tích 101,2 m²; thửa số 972; tờ bản đồ số 38; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 517879, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 09946 cấp ngày 13/4/2020, do sở Tài Nguyên và Sở Tài nguyên thành phố C cấp, điều chỉnh sang tên ông T1 ngày 22/11/2022 và các tài sản khác gắn liền với đất để thu hồi nợ theo bản trích đo địa chính số 1051/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C, biên bản định giá tài sản ngày 20/8/2024.

(đính kèm theo bản trích đo địa chính số 1051/VPĐKĐĐ ngày 31/12/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai – Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C, biên bản định giá tài sản ngày 20/8/2024)

2. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thùy L không có yêu cầu độc lập trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xem xét, trường hợp một trong các bên đương sự có yêu cầu thì được giải quyết thành vụ kiện khác.

3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần X được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, định giá là 9.452.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 9.452.000 đồng (chín triệu bốn trăm năm mươi hai ngàn đồng).

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông T1, bà K phải chịu 112.327.093 đồng (một trăm mười hai triệu ba trăm hai mươi bảy ngàn không trăm chín mươi ba đồng)

Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần X được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006301 ngày 13/5/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện phong Điền, thành phố Cần Thơ.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án; bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự
  • - TAND Tp. Cần Thơ
  • - VKSND H. Phong Điền
  • - THA H. Phong Điền
  • - Lưu (HS - 2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Cúc Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/DSST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 19/2025/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger