|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 19/2025/DS-PT
Ngày: 24/3/2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Cẩn.
Các Thẩm phán: Ông Lê Vũ Tiến.
Bà Thái Thị Hồng Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Liên Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 18 và ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, xét xử phúc thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 40/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 58A/2024/DS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Toà án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 44/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê T, sinh năm 1975; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố D, phường T, quận T, thành phố H; địa chỉ liên lạc: A D, phường X, quận T, thành phố H, có mặt.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Võ Văn H - Luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; địa chỉ: Số C đường H, phường A, quận T. thành phố H, có mặt.
- Bị đơn: Ông Đỗ C, sinh năm 1953 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1957; cùng địa chỉ: Số A kiệt A N, phường X, quận T, thành phố H, đều có mặt.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Bá Nhật B - Luật sư của Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H;
Địa chỉ: Số F N, phường X, quận T, thành phố H, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Hồng T1, sinh năm 1980; địa chỉ: Số A D, phường X, quận T, thành phố H, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/05/2023 lời khai trong quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn ông Lê T trình bày:
Ngày 07/7/2020, giữa ông và vợ chồng ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 (ông C bà H1) đã ký hợp đồng đặt cọc tại Văn phòng C1. Theo đó, ông đã đặt cọc cho ông C bà H1 số tiền 600.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng một phần thửa đất của thửa đất số 26, tờ bản đồ 18, diện tích 724,4m² (trong đó đất ở tại đô thị 200m², đất nông nghiệp 524,4m²), toạ lạc tại số A kiệt A N, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 570971 do UBND thành phố H cấp ngày 11/9/2009. Cụ thể, diện tích nhận chuyển nhượng là: 80 m². Trong đó: 50 m² đất ở, 30 m² đất nông nghiệp. Thời hạn đặt cọc: 03 tháng kể từ ngày 07/7/2020. Đến nay, đã hơn 2 năm mà ông C, bà H1 vẫn chưa làm thủ tục tách thửa để ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông theo thoả thuận. Việc kéo dài thời gian ký hợp đồng chuyển nhượng đã làm ảnh hưởng đến kế hoạch làm nhà sinh sống của gia đình ông. Trong hợp đồng đặt cọc thì ông C, bà H1 chịu trách nhiệm trước pháp luật về những lời cam đoan thực hiện đúng và đầy đủ các thoả thuận ghi trong Hợp đồng, nhưng thực tế thì không thực hiện. Ông đã nhiều lần đến trực tiếp gặp ông C, bà H1 để yêu cầu thực hiện theo thoả thuận, nhưng ông C, bà H1 vì lý do này lý do kia nên không thực hiện việc chuyển nhượng.
- Ngày 18/3/2023, ông đã gửi thông báo để yêu cầu ông C, bà H1 phải thực hiện thủ tục tách thửa, ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định của pháp luật. Thời hạn từ ngày 18/3/2023 cho đến hết ngày 30/03/2023 là phải ký Hợp đồng chuyển nhượng được công chứng tại Văn phòng công chứng theo quy định cho ông. Nếu đến hết ngày 30/03/2023, mà ông Đỗ C, bà Nguyễn Thị H1 không thực hiện việc chuyển nhượng thì phải trả lại tiền đặt cọc đã nhận và một khoản tiền tương đương, cụ thể như sau:
- + Số tiền đã đặt cọc 600.000.000 đồng; một khoản tiền tương đương là 600.000.000 đồng. Tổng cộng là 1.200.000.000 đồng.
- + Ngày 17/4/2022, ông C, bà H1 có nhận thêm của ông số tiền 30.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền phải trả cho ông là: 1.230.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm ba mươi triệu đồng).
Ông đã tạo điều kiện thuận lợi về thời gian thực hiện hợp đồng. Thời hạn thực hiện hợp đồng là 03 tháng, kể từ 07/7/2020 đến 07/10/2020. Đến hết ngày 30/3/2023 là gần 30 tháng mà ông C, bà H1 vẫn không thực hiện. Điều này đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của ông.
Ngày 20/5/2024 ông Lê T có đơn trình bày về việc không yêu cầu phạt cọc đối với bị đơn: Theo hồ sơ khởi kiện thì ông đã đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Huế xem xét, giải quyết buộc ông Đỗ C và Nguyễn Thị H1 phải trả cho ông số tiền là 1.230.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm ba mươi triệu đồng) do ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Hợp đồng đặt cọc giữa ông và vợ chồng ông Đỗ C, bà Nguyễn Thị H1 được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 07/7/2020.
Trong đó: Số tiền đã đặt cọc là 600.000.000 đồng; một khoản tiền phạt đặt cọc tương đương là: 600.000.000 đồng.
+ Ngày 17/4/2022, ông C, bà H1 có nhận thêm số tiền của ông số tiền 30.000.000 đồng; Tổng cộng là1.230.000.000 đồng.
Nay, nhằm tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ một phần khó khăn cho bị đơn thì ông đồng ý như ý kiến của nguyên đơn không yêu cầu phạt cọc 600.000.000 đồng mà chỉ yêu cầu tính lãi kể kể từ ngày bị đơn vi phạm thời hạn hợp đồng đặt cọc.
- + Thời hạn đặt cọc là 03 tháng, kể từ ngày 07/7/2020. Như vậy, ngày vi phạm thời hạn đặt cọc là 8/10/2020.
- + Từ ngày vi phạm là 08/10/2020 đến 8/8/2024 là 46 tháng.
- + Lãi suất theo Bộ luật dân sự quy định 10%/năm, tương tương 0,833%/tháng.
- + Tiền lãi: Tiền đặt cọc là 600.000.000 đồng x 0,833%/tháng = 5.000.000 đồng/tháng x 46 tháng = 230.000.000 đồng (Hai trăm ba triệu đồng).
Yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn phải thanh toán cho vợ chồng ông tiền gốc 02 lần là 630.000.000 đồng + tiền lãi (tạm tính đến ngày 08/8/2024) là 230.000.000 đồng = 860.000.000 đồng (T trăm sáu mươi triệu đồng).
Tại phiên toà nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả tiền gốc 600.000.000 đồng, tiền mượn là 30.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 31/3/2023 đến ngày 30/8/2024 là 17 tháng, với lãi suất 10%/ năm, tương đương 0,83%/tháng: 600.000.000 đồng x 0,83%/tháng = 4.980.000 đồng x 17 tháng = 84.660.000 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 714.660.000 đồng.
Ngày 12/7/2023 bị đơn Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Vào ngày 07/7/2020 chúng tôi có ký kết hợp đồng đặt cọc với ông Lê T tại Phòng C2. Về việc chuyển nhượng 80m² đất tại thửa đất số 26, tờ bản đồ số 18, địa chỉ 10 kiệt A N, phường X, thành phố H.
Trong quá trình ký kết hợp đồng vợ chồng ông đã thoả thuận làm thủ tục tăng diện tích đất ở rồi sẽ tách thửa theo đúng hợp đồng đặt cọc. Song quá trình vợ chồng ông làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất và đã được cấp có thẩm quyền cho chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo quyết định số 10522/QĐ – UBND ngày 31/12/2021.
Trong quá trình vợ chồng ông tiến hành làm thủ tục thì lại nhận được Quyết định số 1500/QĐ – UBND và Quyết định số 1501/QĐ – UBND ngày 15/3/2023. Sau khi nhận được 2 quyết định nói trên vợ chồng đã có đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và đã được Toà án thụ lý và đang giải quyết.
Về việc Hợp đồng đặt cọc nói trên là do trở ngại khách quan chứ không phải do vợ chồng ông không thực hiện, hơn nữa trong Hợp đồng đặt cọc vợ chồng ông không ghi thời gian thực hiện về việc chuyển giao đất bởi do sợ trở ngại về việc chuyển mục đích sử dụng đất. Bằng văn bản này vợ chồng ông xin quý Toà tạm đình chỉ giải quyết vụ án và đợi có Quyết định của Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
Ngày 17/7/2023 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Hồng T1 trình bày:
Việc ông Lê T khởi kiện vợ chồng ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 yêu cầu trả lại số tiền đã nhận đặt cọc của ông Lê T thì bà hoàn toàn nhất trí và đúng pháp luật. Chồng bà (ông Lê T) đã đặt cọc cho ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 số tiền 600.000.000
đồng để nhận chuyển nhượng một phần thửa đất của thửa đất số 26, tờ bản đồ 18, diện tích 724,4m² (Trong đó đất ở tại đô thị 200m², đất nông nghiệp 524,4m²) toạ lạc tại 10 kiệt 118 N, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 570971 do UBND thành phố H cấp ngày 11/9/2009. Cụ thể diện tích nhận chuyển nhượng là 80m². Trong đó: 50m² đất ở, 30m² đất nông nghiệp. Thời hạn đặt cọc: 03 tháng kể từ ngày 07/7/2020. Đến nay, đã hơn 2 năm mà ông C, bà H1 vẫn chưa làm thủ tục tách thửa để ký hợp đồng chuyển nhượng cho vợ chồng bà theo thoả thuận. Việc kéo dài thời gian ký hợp đồng chuyển nhượng đã làm ảnh hưởng đến kế hoạch làm nhà sinh sống của gia đình chúng tôi. Số tiền đã đặt cọc: 600.000.000 đồng, một khoản tiền tương đương là 600.000.000 đồng. Ngày 17/4/2022 vợ chồng ông C, bà H1 có nhận thêm số tiền: 30.000.000 đồng. Tổng cộng: 1.230.000.000 đồng. Số tiền trên là tài sản chung của vợ chồng bà trong thời kỳ hôn nhân.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024 bà Đặng Hồng T1 có đơn trình bày về việc không yêu cầu phạt cọc đối với bị đơn:
Theo hồ sơ khởi kiện thì nguyên đơn đã đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Huế xem xét, giải quyết buộc ông Đỗ C và Nguyễn Thị H1 phải trả cho vợ chồng bà số tiền là: 1.230.000.000 đồng (Một tỷ hai trăm ba mươi triệu đồng) do ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chồng bà và vợ chồng ông Đỗ C – Nguyễn Thị H1 được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 7/7/2020.
Trong đó:
- + Số tiền đã đặt cọc 600.000.000 đồng; một khoản tiền phạt đặt cọc tương đương là: 600.000.000 đồng.
- + Ngày 17/4/2022 có nhận thêm số tiền: 30.000.000 đồng. Tổng cộng: 1.230.000.000 đồng.
Nay, nhằm tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ một phần khó khăn cho bị đơn thì bà đồng ý như ý kiến của nguyên đơn không yêu cầu phạt cọc 600.000.000 đồng mà chỉ yêu cầu tính lãi kể kể từ ngày bị đơn vi phạm thời hạn hợp đồng đặt cọc.
- + Thời hạn đặt cọc là 03 tháng, kể từ ngày 07/7/2020. Như vậy, ngày vi phạm thời hạn đặt cọc là 8/10/2020.
- + Từ ngày vi phạm là ngày 08/10/2020 đến ngày 08/8/2024, là 46 tháng.
- + Lãi suất theo Bộ luật dân sự quy định 10%/năm, tương tương 0,833%/tháng.
- + Tiền lãi: Tiền đặt cọc là 600.000.000 đồng x 0,833%/tháng = 5.000.000 đồng/tháng x 46 tháng = 230.000.000 đồng (Hai trăm ba triệu đồng).
Yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn phải thanh toán cho vợ chồng bà tiền gốc 02 lần là 630.000.000 đồng + tiền lãi (tạm tính đến ngày 08/8/2024) là 230.000.000 đồng = 860.000.000 đồng (T trăm sáu mươi triệu đồng). Vì vậy, bà đồng ý với nội dung của ông Lê T trình bày cũng như trình bày của ông Lê T,
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Thống nhất như ý kiến của nguyên đơn.
Tại các lần làm việc ở Toà án thì nguyên đơn và bị đơn thừa nhận là hai bên đã ký hợp đồng đặt cọc tại Văn phòng C1. Bị đơn đã thừa nhận là đã nhận của nguyên đơn số
tiền đặt cọc là 600.000.000 đồng và có mượn thêm số tiền 30.000.000 đồng. Tổng cộng là 630.000.000 đồng.
Bị đơn có yêu cầu là không phạt đặt cọc 600.000.000 đồng, bị đơn đồng ý trả lãi 200.000.000 đồng nhưng không có tiền nên không có phương án trả nợ. Trong hợp đồng đặt cọc nêu trên có thoả thuận phạt đặt cọc nhưng quá trình giải quyết thì nguyên đơn không yêu cầu phạt cọc. Căn cứ vào thoả thuận trong Hợp đồng đặt cọc ngày 7/7/2020 và thông báo ngày 18/3/2023 thì bị đơn đã vi phạm thời hạn thực hiện nghĩa vụ của mình.
Tại phiên toà hôm nay người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả tiền cọc là 600.000.000 đồng, tiền mượn 30.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 31/3/2023 đến ngày 30/8/2024 là 17 tháng, với lãi suất 10%/ năm, tương đương 0,83%/tháng: 600.000.000 đồng x 0,83%/tháng = 4.980.000 đồng x 17 tháng = 84.660.000 đồng.
Từ những phân tích và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị đơn phải trả một lần cho nguyên đơn toàn bộ số tiền đặt cọc là 600.000.000 đồng, tiền mượn là 30.000.000 đồng và tiền lãi là 84.660.000 đồng. Tổng cộng cả gốc và lãi là 714.660.000 đồng.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Thống nhất như ý kiến của bị đơn.
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi lại tiền đặt cọc là 600.000.000 đồng và 30.000.000 đồng tiền mượn ngày 17/4/2022 và tiền lãi từ ngày 31/3/2023 cho đến ngày 30/8/2024 là 84.660.000 đồng . Tổng cộng cả gốc và lãi là 714.660.000 đồng thì bị đơn không đồng ý. Vì trong hợp đồng đặt cọc ngày 07/7/2020 không có sự thoả thuận ngày cụ thể về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 58A/2024/DS-ST ngày 30-8-2024, Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Toà án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H) đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 244, Điều 266, Điều 267, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 328, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê T: Buộc ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 có nghĩa vụ trả cho ông Lê T và bà Đặng Hồng T1 số tiền đặt cọc, tiền mượn thêm và tiền lãi là 714.660.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án dân sự của các bên đương sự.
Ngày 09/9/2024, bị đơn – ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H). Lý do kháng cáo: Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay
là Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H) chưa xem xét, đánh giá một cách toàn diện của Hợp đồng đặt cọc ngày 07/7/2020, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông C bà H1, cụ thể như sau: Xét về hợp đồng đặt cọc ngày 07/7/2020 giữa ông bà với ông Lê T là có sự nhầm lẫn theo quy định tại Điều 126 Bộ luật Dân sự, nhưng Tòa án nhân dân thành phố Huế (nay là Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H) lại đưa ra xét xử theo yêu cầu khởi kiện của ông Lê T là tranh chấp hợp đồng đặt cọc là không đúng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, huỷ bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là Toà án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H) với lý do hợp đồng đặt cọc ngày 07/7/2020 giữa ông Lê T với vợ chồng Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 là vô hiệu do nhẫm lẫn theo Điều 126 của Bộ luật dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên toà đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, tham gia phiên toà theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 148, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1, sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 58A/2024/DS-ST ngày 30-8-2024 của Toà án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Toà án nhân quận T, thành phố H) về áp dụng lãi suất.
Án phí dân sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử xác định lại nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 không phải chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tại phiên toà bà Đặng Hồng T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Đặng Hồng T1.
[1.2] Đơn kháng cáo của bị đơn có nội dung phù hợp với quy định tại Điều 271, Điều 272 trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 và được miễn tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 28 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận để đưa ra xét xử phúc thẩm.
[1.3] Về thẩm quyền: Các đương sự tranh chấp hợp đồng đặt cọc và bị đơn ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị Hồng T2 tại số A Kiệt A đường N, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H) nên Tòa án nhân dân thành phố Huế (nay là Toà án nhân dân quận Thuận Hoá) thụ lý giải quyết là đúng pháp luật được quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.4] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ông Lê T làm đơn khởi kiện yêu cầu ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 phải có trách nhiệm trả cho ông Lê T và bà Đặng Hồng T1 số tiền đặt cọc, tiền mượn và số tiền phạt cọc theo Hợp đồng ký kết ngày 07/7/2020. Do đó, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp Hợp đồng đặt cọc đảm bảo theo Điều 328 của Bộ luật Dân sự.
[2] Về nội dung kháng cáo của bị đơn ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy rằng:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Căn cứ Hợp đồng đặt cọc ngày 07/7/2020 được lập tại Văn phòng C1 giữa bên đặt con ông Lê T (Bên A), bên nhận đặt cọc ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 (Bên B), thì việc ký kết hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng một phần diện tích quyền sử dụng đất (diện tích 80m² trong đó 50m² đất ở đô thị; 30m² nông nghiệp) thuộc quyền hợp pháp của bên A căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 570971 do Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Ủy ban nhân dân quận T, thành phố H) cấp ngày 11/9/20209, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: H 01105 - 2009 05- 018, tại thửa đất số 26, tờ bản đồ số 18, diện tích 724,4m² (Trong đó đất ở tại đô thị 200m², đất nông nghiệp 524,4m²) tọa lạc tại: 10 kiệt A N, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H), cùng ngày ông T đã đặt cọc cho ông C, bà H1 số tiền 600.000.000 đồng, ông C, bà H1 đã nhận số tiền này. Ngày 17/4/2022 ông Lê T có cọc thêm cho ông Đỗ C, bà Nguyễn Thị H1 số tiền 30.000.000 đồng. Như vậy, ông T đã đặt cọc cho ông C, bà H1 với số tiền 600.000.000 đồng; tiền ông C, bà H1 mượn thêm 30.000.000 đồng. Tổng cộng là 630.000.000 đồng.
Như vậy, việc thoả thuận về tiền cọc trong hợp đồng đặt cọc giữa các bên là một giao dịch dân sự; bên bán, bên mua tham gia ký kết hợp đồng đều thừa nhận toàn bộ nội dung ký kết đặt cọc và tiền mượn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc. Đối tượng của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật theo quy định tại các Điều 116, 117, 118, 119 của Bộ luật dân sự. Do đó, hợp đồng có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm các bên ký kết nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng.
Tại Điều 2 của Hợp đồng đặt cọc: Thời hạn đặt cọc: “Thời hạn đặt cọc là 03 tháng, kể từ ngày 07/7/2020, sau khi ký hợp đồng đặt cọc ông C, bà H1 có trách nhiệm làm thủ tục chuyển nhượng một phần diện tích (diện tích 80m² trong đó 50m² đất ở đô
thị; 30m² nông nghiệp) thuộc quyền hợp pháp của ông C, bà H1 căn cứ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 570971 do Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Ủy ban nhân dân quận T, thành phố H) cấp ngày 11/9/20209, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: H 01105-2009 05-018, cụ thể như sau: Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 18, diện tích 724,4m²; hình thực sử dụng: Sử dụng riêng 724,4m²; đất ở đô thị 200m²; đất nông nghiệp 524,4m²; thời hạn sử dụng: Đất ở đô thị lâu dài; đất nông nghiệp: Đến 15/10/2043; nguồn gốc sử dụng: Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, toạ lạc tại số A kiệt A N, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận T, thành phố H). Nhưng sau 03 tháng kể từ ngày 07/7/2020 ông C, bà H1 không thực hiện việc chuyển nhượng được vì trong quá trình tiến hành làm thủ tục ông C, bà H1 nhận Quyết định số 1500/QĐ - UBND ngày 15/3/2023 về việc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân thành phố H (nay là Ủy ban nhân dân quận T) và Quyết định số 1501/QĐ - UBND ngày 15/3/2023 về việc hủy bỏ quyết định số 10522/QĐ - UBND ngày 31/12/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố H (nay là Ủy ban nhân dân quận T) đối với thửa đất trên. Như vậy, thỏa thuận giữa T với ông C, bà H1 không thực hiện được là do lỗi khách quan.
- Xét về yêu cầu trả lại tiền cọc và tiền mượn của nguyên đơn: Căn cứ vào Hợp đồng đặt cọc mà các bên đương sự lập tại Văn phòng C1 vào ngày 07/7/2020, lời khai của các bên đương sự đã có có căn cứ để xác định ông Lê T đã chuyển cho ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 2 lần với tổng số tiền là 630.000.000 đồng (Cụ thể: Lần 1 vào ngày 07/7/2020 ông tám đã đặt cọc cho ông C, bà H1 số tiền là 600.000.000 đồng; Lần 2: Ngày 17/4/2022 ông cần, bà H1 mượn thêm số tiền là 30.000.000 đồng). Sau khi ký kết hợp đồng đặt cọc các bên không thực hiện được là do lỗi khách quan, nên ông T đã yêu cầu ông C, bà H1 trả lại tiền đã đặt cọc và tiền mượn thêm. Xét thấy, ông Lê T yêu cầu ông Đỗ C, bà Nguyễn Thị H1 trả lại số tiền đặt cọc là 600.000.000 đồng và tiền mượn thêm là 30.000.000 đồng. Tổng cộng là 630.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015, nên Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận, buộc ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho ông Lê T và bà Đặng Hồng T1 số tiền đặt cọc và tiền mượn là 630.000.000 đồng, là có căn cứ.
- Xét về thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê T thấy rằng: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn ông Lê T yêu cầu ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 trả lại số tiền cọc và tiền mượn thêm là 630.000.000 đồng và phạt cọc do ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 đã vi phạm hợp đồng đặt cọc với số tiền là 600.000.000 đồng. Tổng cộng 1.230.000.000 đồng. Tại đơn trình bày vào ngày 20/5/2024 của ông Lê T cũng như tại phiên toà sơ thẩm ông Lê T thay đổi yêu cầu khởi kiện không yêu cầu phạt cọc, chỉ yêu cầu ông ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 trả lại số tiền cọc và tiền mượn thêm là 630.000.000 đồng và phải trả lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ chậm trả đối với số tiền đặt cọc là 600.000.000 đồng, thời hạn chậm trả tính từ ngày 31/3/2023 (sau 15 ngày kể từ ngày thông báo ngày 16/3/2023) đến thời điểm xét xử, cụ thể: Từ ngày 31/3/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là 30/8/2024 là 17 tháng với số tiền 4.980.000 đồng/tháng; số tiền đặt cọc là 600.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 17 tháng = 84.660.000 đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Mặc dù việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu theo Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, theo Điều 328 của Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định việc hoàn trả lãi suất trên số tiền phạt cọc đã nhận do hợp đồng không thực hiện được. Mặt khác, trong hợp đồng đặt cọc các bên không có thoả thuận về lãi suất, trong thông báo về
việc thực hiện hợp đồng đặt cọc mà nguyên đơn thông báo cho bị đơn nếu không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị đơn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền cọc. Do đó, việc Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn ông Lê T để buộc bị đơn ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 phải trả số tiền lãi 10%/năm = 0,83%/tháng trên số tiền đặt cọc từ ngày 31/3/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là 30/8/2024 là 17 tháng: 600.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 17 tháng = 84.660.000 đồng cho ông Lê T và bà Đặng Hồng T1, là không có cơ sở chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm cần sửa bản bản sơ thẩm về áp dụng lãi suất, không chấp nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn ông Lê T về việc buộc bị đơn ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho ông Lê T và bà Đặng Hồng T1 số tiền lãi là 84.660.000 đồng.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm số: 58A/2024/DS-ST ngày 30/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H). Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên toà phúc thẩm ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới về việc Toà án cấp sơ thẩm chưa xem xét, đánh giá một cách toàn diện của hợp đồng đặt cọc mà các bên ký kết vào ngày 07/7/2020. Đối với Điều 3 có ghi: Bên A đặt cọc cho bên B với số tiền nêu trên tại Điều 1 của Hợp đồng này để nhận chuyển nhượng một phần đất diện tích 80m² (trong đó 50m² đất ở tại đô thị; 30m² đất nông nghiệp) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bên A (do đánh máy nhầm lẫn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bên B mới đúng). Xét thấy, quá trình thực hiện hợp đồng đặt cọc các bên không có ai khiếu nại, thắc mắc gì; mặt khác, bên B cũng nhận tiền đặt cọc 600.000.000 đồng và tiền mượn 30.000.000 đồng của bên A, việc nhầm lẫn này không ảnh hưởng gì đến việc giải quyết vụ án, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn về huỷ bản án sơ thẩm.
Tuy nhiên, do không chấp nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 để sửa bản án sơ thẩm về áp dụng lãi suất.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 phải chịu trên số tiền 630.000.000 đồng là 20.000.000 đồng + {(230.000.000 đồng x 4%)} = 29.200.000 đồng. Do ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
- - Buộc ông Lê T phải chịu: 84.660.000 đồng x 5% = 4.233.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà ông Lê T đã nộp 24.450.000 đồng theo biên bai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0006158 ngày 20/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Thuận Hoá, thành phố H). Nay ông Lê T được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí chênh lệch là: 24.450.000 đồng - 4.233.000 đồng = 20.217.000 đồng ( Hai mươi triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng).
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 không phải chịu án phí.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 296, khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuyên xử:
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 58A/2024/DS-ST ngày 30-8-2024 của Toà án nhân dân thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay là Toà án nhân dân quận Thuận Hoá, thành phố H) về áp dụng lãi suất.
2. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 116, 117, 118, 119, 328, 357, 468 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 4 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê T, buộc bị đơn ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho ông Lê T và bà Đặng Hồng T1 số tiền đặt cọc và tiền mượn là 630.000.000 đồng (Sáu trăm ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả khoản tiền, hàng tháng, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê T về việc buộc bị đơn ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho ông Lê T và bà Đặng Hồng T1 số tiền lãi là 84.660.000 đồng (T mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí, nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
- - Buộc ông Lê T phải chịu 4.233.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà ông Lê T đã nộp 24.450.000 đồng theo biên bai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0006158 ngày 20/6/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (Nay Chi cục Thi hành án dân sự quận Thuận Hoá, thành phố H). Nay ông Lê T được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí chênh lệch là 20.217.000 đồng (Hai mươi triệu hai trăm mười bảy nghìn đồng).
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đỗ C và bà Nguyễn Thị H1 không phải chịu án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Trọng Cẩn |
Bản án số 19/2025/DS-PT ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 19/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
